Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ, PHƯỜNG 1. Chất lượng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, phường 1.1 Cấp xã, phường và cán bộ chủ chốt cấp xã, phường 1.1 Cấp xã, phường Xã, phường, thị trấn (cấp xã) có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị - hành chính nước ta. Phường là đơn vị hành chính nội thị, nội thành của một thị xã hay một thành phố trực thuộc tỉnh hoặc của một quận ở thành phố trực thuộc trung ương, được đặc trưng với quản lý đô thị. Xã hiện nay là tên gọi chung các đơn vị hành chính thuộc cấp thấp nhất ở khu vực nông thôn, ngoại thành, ngoại thị của Việt Nam.
Hiến pháp năm 1992 của nước ta xác định rõ: “Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉnh chia thành huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã chia thành xã và phường; quận chia thành phường”. Như vậy xã, phường là đơn vị hành chính cuối cùng trong hệ thống hành chính bốn cấp ở nước ta. 6 Sơ đồ 1: Sơ đồ phân cấp hành chính Việt Nam theo Hiến pháp 1992 Việt Nam Thành phố trực Tỉnh thuộc Trung ương Quận Thị xã Huyện Thành phố trực thộc tỉnh Phường Xã Thị trấn Tính đến 31 tháng 12 năm 2011, nước ta có 11.112 đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, trong đó có 9. Dưới xã, phường, thị trấn có các cộng đồng dân cư tự quản; dưới xã có thôn, làng, ấp, bản, buôn.
Dưới phường, thị trấn có tổ dân phố. Cấp xã, phường là nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, xã hội ở cơ sở, đảm bảo các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân. Sự trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị-hành chính cấp xã đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công phục vụ nhân dân. 7 Trong quá trình xây dựng, hoàn thiện bộ máy nhà nước, Đảng và Nhà nước ta luôn dành sự quan tâm đối với hệ thống chính trị-hành chính cấp xã, phường.
Cùng với việc hoàn thiện thể chế, chính sách đãi ngộ và đầu tư cơ sở vật chất, Đảng và Nhà nước luôn chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, phường. Cấp xã là cấp gần dân nhất, là cầu nối trực tiếp giữa hệ thống chính trị - hành chính cấp trên với nhân dân, hàng ngày tiếp xúc, nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế- xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.2 Cán bộ chủ chốt cấp xã, phường: Hiện nay đang có nhiều quan niệm khác nhau về CBCC. Để nhận thức đầy đủ và đúng đắn vấn đề này, cần là rõ một số khái niệm sau: a- Thứ nhất, khái niệm “Cán bộ”: Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt do Nguyễn Như Ý chủ biên thì cán bộ có hai nghĩa: - Người làm việc trong cơ quan nhà nước - cán bộ nhà nước.
- Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ trong các cơ quan , tổ chức nhà nước” [10,Tr 249]. Theo Điều 1 của Pháp lệnh công chức do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 9/3/1998: “Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách”. Như vậy, có nhiều quan niệm về cán bộ, nhưng tựu trung lại, có hai cách hiểu cơ bản: Một là, cán bộ bao gồm những người trong biên chế nhà nước, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể chính trị xã hội, các doanh nghiệp nhà nướcvà các lực lượng vũ trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương và cơ sở. 8 Hai là, cán bộ là những người gữi chức vụ trong một cơ quan hay tổ chức để phân biệt với người không có chức vụ.
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất: Cán bộ là người lãnh đạo, quản lý hoặc người làm chuyên môn, nhà khoa học hay công chức, viên chức làm việc, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc từ các nguồn khác. Họ được hình thành từ tuyển dụng, phân công công tác sau khi tốt nghiệp ra trường, từ bổ nhiệm, đề bạt hoặc bầu cử. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra khái niệm về cán bộ hết sức dễ hiểu : “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [5,Tr 33] b- Thứ hai, khái niệm “ Chủ chốt”: Theo Từ điển Tiếng Việt – 2000 của Nhà xuất bản Đà Nẵng, từ “Chủ chốt” là quan trọng nhất, có tác dụng làm nòng cốt.
c- Thứ ba, khái niệm “cán bộ chủ chốt”: Từ trước đến nay, trong công tác cán bộ, trong các văn bản, Nghị quyết của Đảng đề cập rất nhiều đến khái niệm cán bộ chủ chốt. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất và những tiêu chí cụ thể để xác định trong bộ máy tổ chức của một cấp thì những ai được gọi là cán bộ chủ chốt và ai không phải là cán bộ chủ chốt. Có người cho rằng, cán bộ chủ chốt bao gồm toàn bộ cán bộ là ủy viên thường vụ và BCH của tổ chức đảng, thường trực của bộ máy chính quyền và ủy viên ban chấp hành các đoàn thể. Có người lại quan niệm CBCC là người đứng đầu quan trọng nhất.
Trong mỗi tổ chức đều có tập thể lãnh đạo, trong tập thể lãnh đạo có người đứng đầu, có tác dụng chi phối chính toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định, người đó là cán bộ chủ chốt. TS Trần Xuân Sầm thì cán bộ lãnh đạo chủ chốt "là những cán bộ lãnh đạo, nhưng là lãnh đạo toàn diện, có trọng trách nặng nề nhất, có quyền thay mặt tập thể lãnh đạo giải quyết các vấn đề và chịu trách nhiệm trước tập thể"[6,Tr139]. Đó là những người lãnh đạo quản lý có 9 chức vụ và quyền hạn cao nhất trong tổ chức Đảng, Chính quyền ở xã, phường tức là những người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị ở xã, phường. Trong phạm vi luận văn này, khái niệm CBCCCX, P sử dụng là: "Những người đứng đầu quan trọng nhất, có chức vụ cao nhất trong một tập thể, có quyền ra những quyết định về chủ trương, có trách nhiệm về quyền điều hành một tập thể, một đơn vị, một tổ chức để thực hiện những nhiệm vụ của tập thể hoặc tổ chức ấy, thậm chí có thể chi phối, dẫn dắt toàn bộ hoạt động của một tổ chức nhất định"[7,Tr35,36].
Đó là: Những người có chức năng lãnh đạo, quản lý giữ các vị trí chủ yếu nhất trong các tổ chức Đảng, Chính quyền ở xã, phường. Có trách nhiệm chính trong việc đề xuất các chủ trương, nghị quyết của cấp uỷ Đảng, Chính quyền trong phạm vi cấp xã, phường. Có nhiệm vụ quan trọng điều hành và tổ chức thực hiện các Chủ trương, Đường lối, Chính sách của Đảng và Nhà nước trên địa bàn xã, phường. Chịu trách nhiệm chính trước tập thể, trước quần chúng nhân dân và cấp trên về nhiệm vụ ở cương vị công tác được giao ở xã, phường.
Từ những điều trình bày ở trên, có thể quan niệm rằng: Cán bộ chủ chốt cấp xã, phường là những cán bộ đứng đầu tổ chức Đảng, Chính quyền của hệ thống chính trị cấp xã, phường. Mỗi cán bộ chủ chốt được gắn với tổ chức và chức danh cụ thể. Đồng chí Bí thư Đảng ủy là cán bộ chủ chốt của Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã, phường là cán bộ chủ chốt của chính quyền xã, phường. Bí thư, Phó bí thư Thường trực Đảng ủy xã là người được Đại hội đại biểu đảng bộ cùng cấp bầu, được cấp ủy cấp trên trực tiếp chuẩn y (trường hợp đặc biệt hoặc thật cần thiết do cấp trên chỉ định); là người chủ trì các mặt công tác của đảng ủy, người thay mặt Đảng ủy xã giải quyết công việc hàng ngày của đảng ủy theo nghị quyết của đảng ủy cấp mình và nghị quyết, chỉ thị của cấp trên.
Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã là người được Đại hội đại biểu đảng bộ cùng cấp bầu vào đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy xã; là người được Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, được Thường trực Hội đồng nhân dân cấp trên trực tiếp phê 10 chuẩn; là người cùng tập thể Hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách.; giám sát hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cùng cấp và có quyền đình chỉ, bác bỏ những quyết định sai trái của Ủy ban nhân dân cùng cấp. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là người được Đại hội đại biểu đảng bộ cùng cấp bầu vào đảng ủy, Ban Thường vụ Đảng ủy xã; là người được Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; là người chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; cùng tập thể Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt động của Ủy ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước cơ quan nhà nước cấp trên.