CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Tổng quan về kiểm toán báo cáo tài chính 1. Khái niệm Các công ty chuẩn bị báo cáo tài chính của mình theo khuôn khổ các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung liên quan đến quốc gia của họ, còn được gọi chung là các chuẩn mực kế toán hoặc các chuẩn mực báo cáo tài chính.
Việc trình bày hợp lý các báo cáo tài chính đó được đánh giá bởi các kiểm toán viên độc lập bằng cách sử dụng khuôn khổ các chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận chung, đưa ra các yêu cầu và hướng dẫn về cách thực hiện một cuộc kiểm toán, còn được gọi đơn giản là các chuẩn mực kiểm toán. Có nhiều định nghĩa khác nhau về kiểm toán, nhưng hiện nay định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là: “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các KTV đủ năng lực và độc lập” (A. Theo giáo trình “Kiểm toán” của Nhà xuất bản Lao động Xã hội, năm 2008 thì kiểm toán BCTC “là cuộc kiểm tra để đưa ra ý kiến nhận xét về sự trình bày trung thực và hợp lý của BCTC của một đơn vị.
Do BCTC bắt buộc phải được lập theo các chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, nên chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán được sử dụng làm thước đo trong kiểm toán BCTC”. Kết quả kiểm toán BCTC có thể phục vụ cho đơn vị, Nhà nước và các bên thứ ba, nhưng chủ yếu là phục vụ cho những bên thứ ba như cổ đông, nhà đầu tư, ngân hàng… để họ đưa ta những quyết định kinh tế của mình. Mục tiêu của kiểm toán BCTC Mục đích của cuộc kiểm toán báo cáo tài chính Các công ty lập báo cáo tài chính cung cấp thông tin về tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của họ. Thông tin này được sử dụng bởi nhiều bên liên quan (ví dụ, các nhà đầu tư) trong việc đưa ra các quyết định kinh tế.
Thông thường, những người sở hữu một công ty, các cổ đông, không phải là những người quản lý nó. Do đó, chủ sở hữu của các công ty này (cũng như các bên liên quan khác, chẳng hạn như ngân hàng, nhà cung cấp, chủ nợ và khách hàng) cảm thấy thoải mái với sự đảm bảo độc lập rằng báo cáo tài chính hiển thị một cách hợp lý, trên mọi khía cạnh trọng yếu, tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động của công ty. Để nâng cao mức độ tin cậy trong báo cáo tài chính, một bên ngoài đủ năng lực (kiểm toán viên) sẽ tham gia vào việc kiểm tra báo cáo tài chính, bao gồm cả các thông tin thuyết minh liên quan do Ban Giám đốc cung cấp, để đưa ra ý kiến chuyên môn của họ về việc liệu chúng có phản ánh trung thực hay không, trên mọi khía cạnh trọng yếu, kết quả hoạt động tài chính của công ty trong (các) thời kỳ nhất định (báo cáo thu nhập) và tình hình tài chính tại (các) ngày cụ thể (bảng cân đối kế toán) phù hợp với Nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung (GAAP) có liên quan. Trong nhiều trường hợp, điều này được yêu cầu bởi luật pháp.
Mục tiêu tổng quát: được hiểu là tìm kiếm bằng chứng kiểm toán để đưa ra ý kiến về tính trung thực, hợp lý của thông tin trình bày trên Bảng khai tài chính. Mục đích chung của kiểm toán: là việc xem xét đánh giá tổng thể số tiền ghi trên các chu trình, trên cơ sở các cam kết chung về trách nhiệm của nhà quản lý về những thông tin thu được qua khảo sát thực tế ở đơn vị được kiểm toán. Đồng thời xem xét cả tới các mục tiêu chung khác bao gồm: mục tiêu có thực, đầy đủ trọn vẹn, mục tiêu về tính chính xác cơ học, mục tiêu về định giá hay phân loại trình bày, mục tiêu về quyền và nghĩa vụ. Vai trò của kiểm toán BCTC theo Thông tư 214/2012 /TT - BTC Đối với doanh nghiệp được kiểm toán: Kiểm toán BCTC có các vai trò chủ yếu sau: - Thứ nhất: Kiểm toán BCTC giúp lãnh đạo doanh nghiệp (chủ doanh nghiệp, giám đốc) được kiểm toán thấy được những sai sót trong quản lý tài chính – kế toán và giúp họ nhận thấy được nghĩa vụ phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật hiện hành về tài chính kế toán.
- Thứ hai: Giúp cho đội ngũ cán bộ chuyên môn thấy được các sai sót trong nghiệp vụ chuyên môn của mình. - Thứ ba: Giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy được và loại bỏ những chi phí không hợp lệ qua đó đưa ra các giải pháp tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp. - Thứ tư: Giúp nhà lãnh đạo có thêm cơ sở ra các quyết định về sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Thứ năm: Nâng cao chất lượng công tác hạch toán kế toán.
- Thứ sáu: Giúp doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ. - Thứ bảy: Giúp doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả được tăng thêm uy tín. Đối với đối tượng khác sử dụng kết quả kiểm toán BCTC: Kiểm toán BCTC tạo niềm tin cho những người quan tâm. Trong cơ chế thị trường có rất nhiều người quan tâm đến tình hình tài chính và sự phản ánh của nó trong tài liệu kế toán và BCTC.
Trong đó có thể kể đến: - Các cơ quan nhà nước: cần thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật. - Các nhà đầu tư: cần thông tin tin cậy để có hướng dẫn đúng, điều hành sử dụng vốn đầu tư. Các nhà đầu tư ở đây không chỉ trong nước mà còn cả nước ngoài. Họ cần sự xác nhận độc lập và trung thực của KTV để đưa ra quyết định đầu tư vào 12 doanh nghiệp.
Đặc biệt là hiện nay khi mà thị trường chứng khoán phát triển mạnh mẽ và giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. - Ngân hàng và các tổ chức tín dụng: căn cứ vào kết quả kiểm toán để xem xét tình hình cho các doanh nghiệp vay khi cần thiết và khả năng thu hồi nợ. - Người lao động: cần có thông tin đáng tin cậy về kết quả kinh doanh, lợi nhuận phân phối, về thực hiện chính sách tiền lương và bảo hiểm… nhu cầu đó chỉ có thể đáp ứng thông qua hệ thống kiểm toán hoàn chỉnh. - Khách hàng và nhà cung cấp: cũng cần hiểu rõ về kết quả kinh doanh, về tài chính của các đơn vị kiểm toán về nhiều mặt: số lượng, chất lượng sản phẩm hàng hóa, cơ cấu tài sản và khả năng thanh toán của đơn vị.
Tất cả các đối tượng này đều có nguyện vọng chung là được sử dụng thông tin có độ tin cậy cao, hợp lý và trung thực, vai trò của kiểm toán BCTC là đáp ứng đầy đủ các nguyện vọng trên. Quy trình kiểm toán BCTC Trong kiểm toán Báo cáo tài chính, để thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán có giá trị để làm căn cứ cho kết luận của kiểm toán viên. Về tính trung thực và hợp lý của thông tin trên Báo cáo tài chính đồng thời đảm bảo tính hiệu quả, kinh tế, tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toán. Kiểm toán viên phải xây dựng được quy trình cụ thể cho cuộc kiểm toán đó.
Thông thường, mỗi quy trình kiểm toán được chia thành 3 bước cơ bản là chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán. 13 chuẩn bị thực hiện kết thúc kiểm toán kiểm toán kiểm toán Sơ đồ 1. 1 Quy trình kiểm toán BCTC 1. Chuẩn bị kiểm toán: Từ thư mời kiểm toán, kiểm toán viên tìm hiểu khách hàng với mục đích hình thành hợp đồng hoặc kế hoạch chung cho cuộc kiểm toán.
Để có thể hình thành hợp đồng hoặc kế hoạch chung, kiểm toán viên cần tiếp cận khách hàng. Đây là bước công việc quan trọng nhằm giúp kiểm toán viên đưa ra các quyết định kiểm toán. Trên cơ sở đó hai bên sẽ ký hợp đồng kiểm toán hoặc thư cam kết kiểm toán. Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm việc thu thập thông tin về đặc điểm hoạt động kinh doanh, đánh giá rủi ro, tìm hiểu về hệ thống kiểm soát nội bộ, xác lập mức trọng yếu, đánh giá tính độc lập.
để xây dựng kế hoạch cụ thể và chương trình kiểm toán cho từng phần hành, đồng thời chuẩn bị các phương tiện cùng lực lượng giúp việc (nếu cần) cho việc triển khai kế hoạch và chương trình kiểm toán đã xây dựng. Thực hiện kiểm toán Trong giai đoạn này, kiểm toán viên thực hiện kế hoạch kiểm toán để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp nhằm làm cơ sở cho ý kiến về báo cáo tài chính được kiểm toán. Thực hiện kiểm toán và chương trình kiểm toán để thu thập những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp nhằm làm cơ sở cho ý kiến nhận xét của KTV. 14 Trong giai đoạn này KTV sẽ thực hiện hai loại thử nghiệm chủ yếu là: Thử nghiệm cơ bản, thử nghiệm kiểm soát: − Thử nghiệm cơ bản: bao gồm các thủ tục để thu thập bằng chứng kiểm toán dựa trên việc thẩm tra các thông tin biểu hiện bằng tiền phản ánh trên các báo cáo tài chính.
− Thử nghiệm kiểm soát: (kiểm tra hệ thống kiểm soát) là loại thử nghiệm để thu thập bằng chứng về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ để từ đó sử dụng thông tin từ hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Kết thúc kiểm toán: Là giai đoạn tổng hợp và rà soát lại về những bằng chứng đã thu thập được để KTV hình thành ý kiến nhận xét trên báo cáo kiểm toán. Tùy theo sự đánh giá về mức độ trung thực và hợp lý của BCTC mà KTV sẽ phát hành loại báo cáo kiểm toán tương ứng. Là lúc kiểm toán viên đưa ra kết luận kiểm toán.
Các kết luận này nằm trong báo cáo hoặc biên bản ghi nhớ kiểm toán. Để đưa ra được những ý kiến chính xác. Kiểm toán viên phải tiến hành các công việc cụ thể như: xem xét các khoản nợ ngoài dự kiến. Xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ.
Xem xét tính liên tục trong hoạt động của đơn vị. Thu thập thư giải trình của Ban Giám đốc… Để hoàn tất công tác kiểm toán, kiểm toán viên tổng hợp kết quả, lập nên Báo cáo kiểm toán.