Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về chất lượng dịch vụ 1. Khái niệm về chất lượng dịch vụ Sản phẩm dịch vụ là loại sản phẩm sở hữu những đặc điểm khác biệt so với sản phẩm vật chất như tính vô hình, tính không tách rời được, tính không ổn định cũng như tính không lưu giữ được. Chính vì vậy mà chất lượng của sản phẩm phẩm cũng rất trừu tượng và có khá nhiều cách tiếp cận.
Sau đây là một vài định nghĩa phổ biến về chất lượng dịch vụ: Theo Parasuraman và cộng sự (1985), chất lượng dịch vụ có thể được định nghĩa là “Kết quả nhận thức từ việc so sánh kỳ vọng của người tiêu dùng với hiệu suất dịch vụ thực tế” Theo Kumra (2008) Chất lượng dịch vụ không chỉ bao gồm chất lượng cuối cùng dịch vụ mà còn cả quá trình sản xuất và cung cấp dịch vụ. Theo Lewis và Booms (1983) đã định nghĩa chất lượng dịch vụ là “.thước đo mức độ dịch vụ được cung cấp phù hợp với mong đợi của khách hàng như thế nào”. Gronroos (1984) đã định nghĩa: “Chất lượng dịch vụ như là kết quả của sự so sánh giữa dịch vụ nhận được và dịch vụ được kỳ vọng”. Vào năm 2007, Gronroos phát biểu một cách ngắn gọn: “Chất lượng chính là sự cảm nhận của khách hàng về những gì họ nhận được” Theo TCVN ISO 9000:2015 định nghĩa : “Chất lượng dịch vụ là Tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng có khả năng thỏa mãn những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn” 1.
Vai trò của việc nâng cao chất lượng dịch vụ 1. Đối với doanh nghiệp Đối với hầu hết các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thì việc nâng cao chất lượng của dịch vụ chính là việc làm vô cùng quan trọng quá trình xây dựng, phát triển của công ty. Chất lượng dịch vụ giúp nâng cao sức mạnh cạnh tranh, tạo lợi thế cạnh tranh bền vững cho DN cũng như dịch vụ mà họ cung cấp. Một dịch vụ có chất lượng tốt sẽ được khách hàng gửi gắm niềm tin của họ - là yếu tố trả lời cho câu hỏi “liệu doanh nghiệp có thể tiếp tục tồn tại trên thị trường hay không?”.
Đồng thời khách hành cũng chính là đối tượng có ảnh hưởng lớn, tác động trực tiếp đến doanh thu của DN. 3 Khi đã có được niềm tin từ phía khách hàng cũng như năng lực cạnh tranh mạnh mẽ từ việc nâng cao chất lượng dịch vụ thì việc mở rộng thị trường dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp sẽ trở lên thuận lợi hơn. Vì vậy việc nâng cao chất lượng dịch vụ sẽ đem lại những hiệu ứng tích cực đến nhiều mặt của doanh nghiệp như tăng thị phần, giảm chi phí sản xuất, tối đa hoá lợi nhuận, khả năng thu hồi vốn nhanh chóng,.đặc biệt là giúp DN sớm đạt được mục tiêu mà mình đề ra. Đối với khách hàng Mọi sự thay đổi của chất lượng dịch vụ cũng sẽ ảnh hưởng tới mức độ hài lòng của khách hàng.
Chất lượng của dịch vụ chính là yếu tố quyết định đến sự hài lòng của khách hàng, chúng có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết với nhau. Việc nâng cao chất lượng dịch vụ của DN thông thường sẽ mang lại thêm nhiều giá trị hơn cho khách hàng thậm chí vượt so với mong đợi của họ. Khách hàng thì ngày càng có xu hướng tiêu dùng sản phẩm dịch vụ dựa trên giá trị nó mang lại. Nhiều khách hàng sẵn sàng thay đổi dịch vụ mình đang sử dụng cho dù đã gắn bó lâu năm để sang những dịch vụ mang lại nhiều giá trị hơn.
Vậy nên cải thiện chất lượng sẽ giúp khách hàng quyết định sự chung thành của mình đối với bất cứ sản phẩm dịch vụ nào của doanh nghiệp. Các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ 1. Mô hình SERVQUAL Mô hình SERVQUAL hay còn gọi là Mô hình chất lượng dịch vụ được đề xuất lần đầu bởi A. Parasuraman, Valarie Zeithaml và Leonard L.
Mô hình SERVQUAL là một trong những công cụ chủ yếu trong Marketing dịch vụ dùng để đánh giá chất lượng dịch vụ, Parasuraman cho rằng SERVQUAL là thang đo đạt độ tin cậy và giá trị. Mô hình này có thể áp dụng để đo lường trong đa dạng các loại hình dịch vụ như dịch vụ giáo dục, dịch vụ khách sạn, y tế, du lịch,…và được đánh giá cao bởi tính xác và độ tin cậy. Các loại sản phẩm dịch vụ sở hữu những đặc điểm đặc thù, khác biệt (tính hữu hình, tính không đồng nhất,.) so với các sản phẩm vật chất vì vậy đây có thể là đòn bẩy thúc đẩy cho sự phát triển của mô hình SERVQUAL. Mô hình servqual của Parasuraman được xây dựng dựa trên quan điểm về chất lượng dịch vụ.
Là sự so sánh giữa giá trị kỳ vọng/ mong đợi và giá trị thực tế mà khách hàng cảm nhận được. Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận – Giá trị kỳ vọng 4 Hình 1.1: Sơ đồ Mô hình SERVQUAL Nguồn: Tác giả tổng hợp Thang đo SERVQUAL đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên sự cảm nhận bởi chính các khách hàng sử dụng dịch vụ và bất kỳ dịch vụ nào, chất lượng dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng có thể khái quát thành 10 thành phần, đó là: Tin cậy (Reliability): Nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên. Đáp ứng (Responsiveness): Nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp các dịch vụ cho khách hàng. Năng lực phục vụ (Competence): Nói lên trình độ chuyên môn để thực hiện dịch vụ.
Khả năng phục vụ, biểu hiện khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng, nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ, khả năng nghiên cứu để nắm bắt thông tin liên quan cần thiết cho việc phục vụ khách hàng. Tiếp cận (Access): Liên quan đến việc tạo mọi điều kiện dễ dàng cho khách hàng trong việc tiếp cận với dịch vụ như rút ngắn thời gian chờ đợi của khách hàng, địa điểm phục vụ và giờ mở cửa thuận lợi cho khách hàng. Lịch sự (Courtesy): Nói lên tính cách phục vụ niềm nở, tôn trọng và thân thiện với khách hàng của nhân viên. Thông tin (Communication): Liên quan đến việc giao tiếp, thông tin cho khách hàng bằng ngôn ngữ dễ hiểu và lắng nghe những vấn đề liên quan đến họ như giải thích dịch vụ, chi phí, giải quyết khiếu nại thắc mắc.
Tín nhiệm (Credibility): Nói lên khả năng tạo lòng tin cho khách hàng, làm cho khách hàng tin cậy vào công ty. Khả năng này thể hiện qua tên tuổi và tiếng tăm của công ty, nhân cách của nhân viên phục vụ giao tiếp trực tiếp với khách hàng. An toàn (Security): Liên quan đến khả năng bảo đảm sự an toàn cho khách hàng, thể hiện qua sự an toàn về vật chất, tài chính, cũng như bảo mật thông tin. Hiểu biết khách hàng (Understanding customer): Thể hiện qua khả năng hiểu biết và nắm bắt nhu cầu của khách hàng thông qua việc tìm hiểu những đòi hỏi của khách hàng, quan tâm đến cá nhân họ và nhận dạng được khách hàng thường xuyên.
5 Phương tiện hữu hình (Tangibles): Thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị hỗ trợ cho dịch vụ. Mô hình 10 thành phần của chất lượng dịch vụ này tuy là bao quát được hầu như mọi khía cạnh của dịch vụ nhưng đồng thời tạo ra sự phức tạp trong đo lường. Vì vậy khoảng hai thập kỷ sau đó, các nhà nghiên cứu này đã nhiều lần kiểm định mô hình này đi đến kết luận là chất lượng dịch vụ bao gồm năm thành phần cơ bản đó là: 1. Sự tin cậy (Reliability): thể hiện khả năng thực hiện một dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn.
Sự đảm bảo (Assurance): nhằm xây dựng lòng tin của khách hàng thông qua sự chuyên nghiệp, thái độ lịch sự, tôn trọng khách hàng, khả năng giao tiếp và thái độ quan tâm làm những điều tốt nhất cho khách hàng. Yếu tố hữu hình (Tangibility): vẻ ngoài của cơ sở vật chất, thiết bị, trang phục nhân viên, những vật dụng và những tài liệu dùng cho việc thông tin liên lạc. Sự cảm thông (Empathy): đề cập đến phong cách phục vụ của nhân viên thông qua việc quan tâm, chú ý đến khách hàng, hết lòng tìm hiểu nhu cầu của khách hàng và tạo cảm giác yên tâm, an toàn cho khách hàng. Độ phản hồi (Response): thể hiện sự sốt sắng giúp đỡ khách hàng và nhanh chóng khắc phục sự cố khi có sai sót hoặc tình huống bất ngờ xảy ra.
Mô hình đo lường chất lượng dịch vụ SERVQUAL với việc đưa ra mô hình 5 khoảng cách trong chất lượng dịch vụ cho đến thời điểm hiện tại SERVQUAL được xem là mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ cụ thể và chi tiết nhất. Mô hình SERVPERF Mô hình SERVPERF là một biến thể của mô hình SERVQUAL được xác định đầu tiên bởi Cronin và Taylor (1992). Đối với thang đo SERVQUAL thì chất lượng của dịch vụ được đo bằng mức độ cảm nhận của khách hàng trừ cho giá trị kỳ vọng mà họ mong đợi. Còn với mô hình SERVPERF chất lượng của dịch vụ chỉ sử dụng cảm nhận của khách hàng để đo lường (Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận dịch vụ).
Theo Cronin và Taylor lập luận thì khung phân tích theo mô hình SERVQUAL của Parasuraman và cộng sự (1985) dễ gây nhầm lẫn giữa sự hài lòng và thái độ của khách hàng. Được xem là một phương pháp thuận tiện hơn SERVQUAL bởi việc đo lường chất lượng dịch vụ theo mô hình SERVPERF của Cronin và Taylor (1992) sử dụng bảng câu hỏi ngắn gọn, rút ngắn được lượng thời gian và cho người trả lời cũng rõ ý bảng hỏi tránh được những hiểu nhầm. Song song với ưu điểm thì mô hình này 6 cũng tồn tại các nhược điểm như: không phản ánh được mối quan hệ giữa sự hài lòng, thỏa mãn của người sử dụng với chất lượng dịch vụ được cung cấp.2: Sơ đồ Mô hình SERVPERF Nguồn: Tác giả tổng hợp Bộ thang đo SERVPERF cũng sử dụng 22 biến quan sát với 05 nhân tố tương tự như phần hỏi về cảm nhận của khách hàng trong mô hình SERVQUAL, tuy nhiên bỏ qua phần hỏi về kỳ vọng. 05 nhân tố cơ bản, đó là: 1.
Yếu tố hữu hình (Tangibility): thể hiện qua ngoại hình, trang phục của nhân viên phục vụ, các trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ. Tin cậy (Reliability): nói lên khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên. Đáp ứng (Responsiveness): nói lên sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ cho khách hàng.