CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE SỰ HAI LONG CUA KHACH HÀNG DOI VỚI DỊCH VỤ CHO VAY TIEU DUNG CUA NHTM 1. Tổng quan tinh hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Mô hình lý thuyết đánh giá sự hài lòng của khách hàng.
e Mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL (A.Berry, 1988 Lay ý tưởng ly thuyết trong mô hình của Gronroos (1984), Parasuraman (1985) đã xây dựng một công cụ đo lường hỗn hợp, gọi là SERVQUAL, dùng dé đo lường chất lượng dịch vụ cảm nhận, bộ thang đo SERVQUAL chứa 22 cặp của các khoản mục do theo thang điểm Likert dé đo lường riêng biệt những kỳ vọng và cảm nhận thực tế của khách hàng về chất lượng dịch vụ. Cụ thé: Chat luong dich vu = Mức độ cam nhận — Giá tri kỳ vọng. Day là một trong những mô hình được sử dụng khá phổ biến để đánh giá chất lượng dich vụ trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Mô hình SERVQUAL gồm 10 thành phần: (1) Phương tiện hữu hình; (2) Tin cậy; (3) Đáp ứng:(4) Năng lực phục vụ; (5) Tiếp cận; (6) Ân cần; (7) Thông tin; (8) Tin nhiệm; (9) An toàn; (10) Thấu hiéu.
Đến 1988, Parasuraman và các cộng sự (4.Berry, 1988) hiệu chỉnh lại còn 5 thành phần đây là mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ phô biến và được áp dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu marketing. Theo Parasuraman và cộng sự, chất lượng dịch vụ không thể xác định chung chung mà phụ thuộc vao cảm nhận của khách hàng đối với dịch vụ đó và sự cảm nhận này được xem xét trên nhiều yếu tố. Mô hình Servqual (4.Berry, 1988) được xây dựng dựa trên quan điểm chất lượng dịch vụ cảm nhận là sự so sánh giữa các giá trị kỳ vọng, mong đợi và các giá trị khách hàng cảm nhận được 22 biến quan sát của 5Š tiêu chí: (1) Sự hữu hình: chính là hình ảnh bên ngoài của các cơ sở vật chất, thiết bị, máy móc, phong thái của đội ngũ nhân viên (2) Độ tin cậy: Doanh nghiệp sẽ gây dựng nên niềm tin của khách hàng bằng cách hứa hẹn sẽ làm một điều gì đó đối với khách hàng. Khi khách hàng gặp trở ngại thì doanh nghiệp luôn quan tâm thực sự giải quyết van đề đó.
Các doanh nghiệp sẽ hứa thực hiện đúng ngay từ đầu, đúng thời gian và không xảy ra sai sót nào. (3) Hiệu quả phục vụ: khả năng giải quyết vẫn đề nhanh chóng, xử lý hiệu quả các khiếu nại, sẵn sàng giúp đỡ khách hàng và đáp ứng các yêu cầu của khách hàng. (4) Sự đảm bảo: Day là yêu tô tạo nên sự tín nhiệm, tin tưởng cho khách hàng được cảm nhận thông qua sự phục vụ chuyên nghiệp, kiến thức chuyên môn giỏi, phong thái lịch thiệp và khả năng giao tiếp tốt, nhờ đó, khách hàng cảm thấy an tâm mỗi khi sử dụng dịch vụ. (5) Sự đông cảm chính là sự quan tâm, chăm sóc khách hàng ân cần, dành cho khách hàng sự đối xử chu đáo tốt nhất có thẻ.
Mô hình chất lượng dịch vụ nêu trên thể hiện được tính bao quát hầu hết mọi khía cạnh của dịch vụ nhưng có nhược điểm mang tính lý thuyết và có nhiều thành phần không đạt giá trị phân biệt, mô hình không dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế, thống kê, tâm lý học, dựa vào mô hình phi khẳng định (là sai biệt giữa cảm nhận và kỳ vọng) chứ không dựa trên mô hình thái độ. Sau nhiều nghiên cứu kiểm định cũng như ứng dụng , SERVQUAL được thừa nhận như một thang đo có giá trị lý thuyết cũng như thực tiễn. Tuy vậy, vẫn còn nhiều tranh luận, phê phán, đặt van đề về thang đo này, nhất là về tính tong quát và hiệu lực đo lường chất lượng. Một điều nữa có thể thấy là thủ tục đo lường SERVQUAL khá dài dòng.
Do vậy, đã xuất hiện một biến thể của SERVQUAL là SERVPERF. e Mô hình chất lượng dich vụ thực hiện SERVPERF (J. Taylor, 1992) Trên cơ sở mô hình SERVQUAL của Parasuraman va cộng sự (1988), Cronin và Taylor (J.Taylor, 1992) đã đưa ra mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ thực hiện (Service Perform- SERVPERF) dé don gian hoa viéc danh gia chat lượng một dich vu cụ thé bởi vi theo mô hình SERVPERF (J.Taylor, 1992) thì: Chát lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận. Kết luận này đã nhận được sự đồng tình bởi các nghiên cứu của Lee và ctg (2000), Brady và ctg (2002).
Bộ thang đo SERVPERF cũng sử dụng 22 câu hỏi tương tự như phần mức độ cảm nhận của khách hang trong mô hình SERVQUAL (4.Berry, 1988) nhưng bỏ qua phần hỏi về giá trị kỳ vọng. Bảng câu hỏi trong mô hình SERVPERF ngắn gọn hơn so với SERVQUAL, không gây khó hiểu vì giá trị kỳ vọng như của SERVQUAL, tiết kiệm được thời gian và có thiện cản hơn cho người trả lời, từ đó cho dữ liệu thu thập được chính xác hơn. e Mo hình chỉ số hài lòng của khách hang (CSI Model) CSI (Customer Satisfaction Index) được ứng dụng nhằm đo lường sự thỏa mãn của khách hàng đối với các ngành, các doanh nghiệp ở nhiều quốc gia phát triển trên thế giới. Xây dựng và ứng dụng chỉ số CSI của các ngân hàng giúp cho việc xây dựng hệ thống di liệu thông tin về sự hài lòng của khách hàng, làm cơ sở cho các việc hoạch định chiến lược cạnh tranh, tiếp thị, xây dựng thương hiệu va xúc tiến thương mại.
Mô hình chỉ số hai lòng của khách hang (CSI model) bao gồm mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ và mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Châu Au. Đặc điểm của từng mô hình nay được mô tả chỉ tiết dưới đây: + Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ: Năm 1994, chỉ số thỏa mãn khách hàng của Mỹ cũng được công bố - American Customer Satisfaction Index (ACSI) (Fornell, 1996). Mô hình ACSI được công bố đã đánh dau bước phat triển của hệ thống CSI khi giới thiệu các biến số nguyên nhân của sự thỏa mãn khách hàng, đó là sự mong đợi, chất lượng cảm nhận và giá trị cảm nhận của khách hàng. Kết quả của việc nghiên cứu sự hài lòng khách hàng chính là việc phát hiện lòng trung thành hoặc những phan nàn của họ đối với sản phâm nhằm hoạch định những chiến lược thích hợp.
Trong mô hình chỉ số hài lòng cua Mỹ (ACSI), giá trị cảm nhận chịu tác động bởi chất lượng cảm nhận và sự mong đợi của khách hàng. Khi đó, sự mong đợi của khách hàng có tác động trực tiếp đến chất lượng cảm nhận. Trên thực tế, khi mong đợi cảng cao, có thé tiêu chuẩn về chất lượng cảm nhận của khách hàng đối với sản phâm cảng cao hoặc ngược lại. Sự mong đợi Sự than phiền (Expectations) (Complaint) Giá trị Sw hai cảm nhận lòng của (Perceived khách value) hàng (S7) Sự trung thành Chat lượng cảm nhận (Loyalty) (Perceived quality) Sơ đồ 1.1: Mô hình chỉ số hài lòng khách hang của Mỹ (ACSI) (“Nguồn: Fornell, 1996) + Mô hình chi số hài lòng Châu Âu (ECSI): Mô hình chỉ số hài lòng Châu Âu (ECSI) có một số khác biệt nhất định.
So với ACSI, hình anh của sản phẩm, thương hiệu có tác động trực tiếp đến sự mong đợi của khách hàng. Khi đó, sự hài lòng của khách hàng là sự tác động tổng hòa của 04 nhân tố hình anh, giá trị cảm nhận, chất lượng cảm nhận về cả sản phẩm hữu hình và vô hình. Thông thường, chỉ số ACSI thường áp dụng cho lĩnh vực công còn chỉ số ECSI thường ứng dụng đo lường các sản pham, các ngành.2: Mô hình chi số hai lòng Châu Âu (ECSI) (“Nguồn: Ekléf, 2000) So voi ACSI, hình ảnh của sản phẩm, thương hiệu có tác động trực tiếp đến sự mong đợi của khách hàng. Khi đó, sự hai lòng của khách hàng là sự tác động tổng hòa của 4 nhân tố hình ảnh, giá trị cảm nhận, chất lượng cảm nhận về cả sản phẩm hữu hình và vô hình.
Một số nghiên cứu nước ngoài ứng dụng mô hình ly thuyết đánh giá sự hài lòng của khách hàng Trên thế giới đã có một số tác giả nghiên cứu về các đề tài liên quan đến sử dụng các mô hình kinh tế lượng dé đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng, đánh giá sự hai lòng của khách hang đối với chất lượng dịch vụ ngân hàng ở các khía cạnh khác nhau như: Lianxi Zhou, Ye Zhang, and Jia Xu, 2002. "A Critical Assessment of Servqual’S Applicability in the Banking Context of China", in AP - Asia Pacific Advances in Consumer Research Volume 5, eds. Ramizwick and Tu Ping, Valdosta, GA : Association for Consumer Research. Nghiên cứu sử dung thang do SERVQUAL với mẫu khảo sát 373 khách hang của ngân hàng tại 3 thành phố Hang Châu, Ninh Ba và Kim Hoa ở Chiết Giang nhằm đánh giá dịch vụ ngân hàng tại Chiết Giang, Trung Quốc trong bối cảnh sau đợt cải cách thị tài chính toàn quốc 10 năm 1997, Trung Quéc ra nhập WTO, đưa tới các cơ hội va thách thức mới cho hệ thống ngân hang Trung Quốc.
Dé chuẩn bi cho cuộc cạnh tranh này, nghiên cứu chỉ ra các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới chất lượng dịch vụ ngân hàng nhằm giúp các ngân hàng nắm bắt tình hình, thích ứng và điều chỉnh sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Đây là nghiên cứu tiên phong của ngành ngân hàng Trung Quốc, đồng thời cũng là nghiên cứu khăng định hiệu quả và khả năng áp dụng của thang đo SERVQUAL trong việc đánh gia chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ. Quoc Cuong Nguyen, Sirion Chaipoopirutana and Howard W. A SERVPERF Model of the Vietnamese Banking Industry, San Jose State University.
Nghiên cứu chi ra rằng lòng trung thành của khách hang là một yếu tố quan trọng, có ảnh hưởng đáng ké đến lợi nhuận của công ty. Chi phí của việc giữ một khách hang hiện tại dé ở lại với công ty là thấp hơn nhiều so với chi phi thu được khách hàng mới. Mục đích của nghiên cứu này là để xây dựng và thử nghiệm một mô hình các nhân tố ảnh hưởng sự hài lòng của khách hàng trong ngành ngân hàng Việt Nam. Các dữ liệu được thu thập bằng cách phân phối bảng câu hỏi cho 400 khách hàng ngân hàng tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam và được phân tích bằng mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) và thang đo SERVPERP.
Kết quả cho thấy mức độ hài lòng đối với dich vụ của khách hang bi anh hưởng tích cực và đáng kể bởi hình ảnh công ty và chi phí sử dụng dịch vụ.