CHƯƠNG 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ CHĂM SÓC KHÁCH HÀNG 1.1 Các khái niệm liên quan đến dịch vụ chăm sóc khách hàng 1.1 Khái niệm dịch vụ Theo Jay Heizer & Barry Render (1999) thì định nghĩa "Dịch vụ là những hoạt động thuộc về kinh doanh sản xuất đặc thù như một sản phẩm vô hình bao gồm các lĩnh vực như y tế, giáo dục, nghệ thuật, thực phẩm, bất động sản, giao thông vận tải, bảo hiểm, ngân hàng, thương mại, xây dựng và bảo dưỡng". Theo Zeithaml & Britner (2000), định nghĩa: “Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng”. Theo Pilip Kotler (2015), cha đẻ của marketing cho rằng: “Dịch vụ là bất kỳ hành động hoặc kết quả nào. Thường tồn tại dưới dạng vô hình, rằng một bên có thể cung cấp cho bên kia.
Việc thực hiện một dịch vụ có thể có hoặc không liên kết với một sản phẩm cụ thể” Tóm lại, dịch vụ là một phạm trù với nhiều cách hiểu khác nhau từ các học giả trên thế giới. Mặt khác, có thể hiểu dịch vụ là một sản phẩm vô hình hay cách thức thực hiện một công việc nào đó trong mối quan hệ tương tác giữa người mua và bên cung cấp nhằm mục đích tạo ra giá trị sử dụng và đáp ứng được nhu cầu.2 Khái niệm khách hàng Theo PhiLip Kotler (2003), cho rằng “Khách hàng đang dần trở thành thượng đế trong nền kinh tế hiện nay. Đây là kết quả của việc sản xuất nhiều hơn nhu cầu tiêu thụ. Thị trường gặp vấn đề khi thiếu người mua chứ không phải thiếu hàng hóa.
Công ty phải xem khách hàng là nguồn vốn cần được quản lý, phát huy như bất kỳ nguồn vốn nào khác”. Kotler & Bliemel (2006) đã đưa ra khái niệm rằng "Khách hàng là tất cả các người có nhu cầu hiện tại và tương lai đối với hàng hóa hoặc dịch vụ của một công ty và đều có khả năng thanh toán tất cả các nhu cầu ấy". 6 Theo Peters Drucker (2008), định nghĩa “Khách hàng là người quan trọng nhất đối với chúng ta. Họ không lệ thuộc vào chúng ta mà chúng ta phải tùy thuộc vào họ.
Họ không phải là kẻ ngoài cuộc mà chính là một phần không thể thiếu trong việc kinh doanh của chúng ta. Phục vụ khách hàng không phải rằng chúng ta sẽ giúp đỡ họ mà họ đang giúp đỡ chúng ta bằng cách cho chúng ta cơ hội để được phục vụ họ”. Theo cách hiểu đơn giản thì khách hàng không chỉ dừng ở chỗ là những người mua hàng, họ có thể là những nhà đầu tư, các tổ chức hoặc cá nhân làm việc trong một công ty hay các tổ chức phi lợi nhuận. Họ có sự quan tâm, theo dõi đến một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó mà sự quan tâm này có thể dẫn đến hành động mua.3 Khái niệm chăm sóc khách hàng Theo Howard Senter (2002), đưa ra rằng “Chăm sóc khách hàng (hay dịch vụ khách hàng – Customer Care) thường được coi là những điều tốt đẹp trả trước được cung cấp cho khách hàng tại điểm bán hàng hoặc giao hàng, nhưng điều này không phải là toàn bộ câu chuyện.
Mục tiêu hiện đại của sự hài lòng của khách hàng chỉ đạt được khi mỗi người, từ giám đốc đến nhân viên tồi tệ nhất, đều hướng đến và cam kết đáp ứng nhu cầu của khách hàng”. Kochan, Thomas & ctg (2003), định nghĩa về “Chăm sóc khách hàng là một phần quan trọng của marketing, mang vai trò đảm bảo sự thành công của bất kỳ doanh nghiệp nào. Việc chăm sóc khách hàng phải được thực hiện một cách toàn diện dựa trên mọi khía cạnh của sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Nếu chỉ biết chú trọng vào sản phẩm hay dịch vụ thì việc chăm sóc khách hàng sẽ không hiệu quả”.
Theo như Frank Atkinson (2011), chăm sóc khách hàng có thể được định nghĩa là: “Quá trình cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho khách hàng nội bộ và bên ngoài. Chăm sóc khách hàng mang lại hiệu quả cao về sự hài lòng của khách hàng dẫn đến mối quan hệ mua bán lâu dài giữa nhà cung cấp và khách hàng”. Tóm lại, có rất nhiều định nghĩa về chăm sóc khách hàng khác, tuy nhiên tất cả đều có chung một quan điểm là nhằm tạo ra sự thỏa mãn toàn diện cho khách hàng. Tóm lại, chăm sóc khách hàng là thực hiện công việc một cách có trình tự cho phép giải đáp các vướng mắc của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ.
Chăm sóc khách hàng được bắt đầu với người có cấp cao nhất, chẳng hạn như Giám đốc điều hành đưa ra quyết định chiến lược rằng 7 chiến lược chăm sóc nào là tốt cho doanh nghiệp và sẽ được đưa vào văn hóa của tổ chức các cấp.4 Khái niệm chất lượng dịch vụ Lehtinen & Lehtinen (1982), cho rằng là “Chất lượng dịch vụ phải được đánh giá dựa trên hai khía cạnh: (1) Quá trình cung cấp dịch vụ đến tay người dùng và (2) kết quả mà dịch vụ mang lại”. Theo Parasuraman, Zeithaml & Berry (1988), "Chất lượng dịch vụ được định nghĩa là khoảng cách giữa kỳ vọng về dịch vụ và cảm nhận của khách hàng khi sử dụng dịch vụ". Theo Cronin & Taylor (1992), cho rằng “Chất lượng dịch vụ khi đạt được chất lượng là khi cảm nhận không cần phải so sánh với kỳ vọng của khách hàng vì nó khiến khách hàng nhầm lẫn, khó phân biệt”. Tóm lại, chất lượng dịch vụ là một khái niệm được nhiều học giả trên thế giới sử dụng với nhiều cách nói khác nhau.
Nếu nhà cung cấp mang đến cho khách hàng các sản phẩm/dịch vụ có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của họ tức là doanh nghiệp đó đã thành công trong bước đầu khiến khách hàng thỏa mãn. Do đó, để muốn gia tăng sự hài lòng khách hàng thì nhà cung cấp cần phải nâng cao được chất lượng dịch vụ của mình.5 Khái niệm sự hài lòng Theo Bachelet (1995), “Sự hài lòng của khách hàng là một loại phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng được xuất hiện thông qua việc trải nghiệm của họ đối với một sản phẩm hay dịch vụ”. Oliva, Oliver & Bearden (1995), lại tin rằng sự chênh lệch về giá sản phẩm, dịch vụ mới mà khách hàng nhận được so với những sản phẩm, dịch vụ trước đó, họ sẽ cho thấy được sự hài lòng hay không. Mặt khác, Oliver (1997) đưa ra ý kiến rằng sự hài lòng của khách hàng là sự phản hồi của người tiêu dùng đối với việc thỏa mãn những mong muốn của họ.
8 Theo Zeithaml & Bitner (2000), đã khẳng định: “Sự hài lòng là những nhận định, đánh giá của khách hàng về sản phẩm hoặc dịch vụ trong suốt khoảng thời gian mà nhu cầu và mong muốn của họ được thỏa mãn khi tham gia sử dụng sản phẩm hay dịch vụ đó”. Theo Kotler & Keller (2016), sự hài lòng của khách hàng được định nghĩa “là mức độ của trạng thái cảm giác mãn nguyện hoặc thất vọng của một người bắt nguồn từ việc so sánh cảm nhận đối với một sản phẩm hiệu suất hoặc kết quả so với mong đợi của người đó”. Theo đó, sự hài lòng có ba cấp độ như sau: (1) Nếu nhận thức nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận không thỏa mãn. (2) Nếu nhận thức bằng kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận thỏa mãn.
(3) Nếu nhận thức lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận là thỏa mãn hoặc thích thú. Như vậy, có thể hiểu sự hài lòng của khách hàng được hình thành dựa trên kinh nghiệm tích lũy có được trong lúc lúc mua sắm và sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ. Sau khi thử mua và sử dụng, khách hàng sẽ có thể tự so sánh giữa hiện thực và kỳ vọng, từ đó đưa ra đánh giá hài lòng hay không hài lòng.1 Mô hình Năm khoảng cách chất lượng dịch vụ (Parasuraman & ctg, 1985) Parasuman, el al (1985), cho rằng: “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi (kỳ vọng) của khách hàng và nhận thức (cảm nhận) của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ”. Mô hình CLDV được xây dựng dựa trên phân tích các khoảng cách CLDV như sau: Khoảng cách 1: Không hiểu rõ khách hàng mong đợi điều gì Khoảng cách này chỉ rõ sự chênh lệch giữa mong đợi của khách hàng về dịch vụ và sự nhận thức của khách hàng đối với sự mong đợi đó.
Khoảng cách 2: Không lựa chọn đúng thiết kế dịch vụ và các yêu cầu chất lượng cụ thể Hiểu rõ nhu cầu và mong đợi của khách hàng mới chỉ là điều kiện cần để có thể cung cấp dịch vụ đúng như mong đợi của khách hàng. Vấn đề quan trọng là phải truyền tải các hiểu 9 biết đó thành yêu cầu kỹ thuật, quy trình và các chuẩn mực chất lượng cụ thể trong thiết kế sản phẩm, dịch vụ. Khoảng cách 3: Không cung cấp đúng dịch vụ đã thiết kế và tuân thủ các chuẩn mực Khi đã có phiên bản sản phẩm mới thỏa mãn được sự kỳ vọng của khách hàng thường dẫn đến một kỳ vọng mang vẻ khá chắc rằng dịch vụ mới cung cấp sẽ đảm bảo được chất lượng. Tuy nhiên, một loạt các nhân tố khách quan và chủ quan có thể tác động đến chất lượng và tính chất quán của CLDV.
Khoảng cách 4: Không đáp ứng dịch vụ đúng như đã cam kết Khoảng cách này xuất hiện khi có những so sánh về chất lượng mà thực tế khách hàng nhận được đối với các thông tin dịch vụ đã được truyền đạt qua những chương trình quảng cáo khuyến mại. Những hứa hẹn trong các chương trình quảng cáo làm gia tăng kỳ vọng của khách hàng nhưng cũng sẽ làm giảm đi CLDV khách hàng nhận được khi chúng không được thực hiện đúng với những điều đã hứa. Khoảng cách 5: Những sai lệch của người tiêu dùng Khi khách hàng cảm thấy không có sự khác biệt giữa chất lượng kỳ vọng và chất lượng mà họ cảm nhận được khi sử dụng một dịch vụ, CLDV kỳ vọng dịch vụ được xem như là hoàn hảo. Theo đó Parasuraman đã đưa ra nhận định rằng CLDV phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm này, tức: GAP5 = f (GAP1, GAP2, GAP3, GAP4).
Vì thế, để rút ngắn khoảng cách thứ 5 hay làm tăng CLDV, nhà cung cấp phải nỗ lực rút ngắn các khoảng cách này. Về sau mô hình CLDV năm khoảng cách này đã được Parasuraman tiếp tục phát triển, hiệu chỉnh và đưa ra bộ mô hình đo lường CLDV SERVQUAL 10 thành phần.