Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1. Chất lượng đào tạo Chất lượng Từ chất lượng (quality) bắt nguồn từ từ ‘qualis’ trong tiếng Latin, có nghĩa là “loại gì”. Đây là một từ đa nghĩa và nhiều hàm ý, một khái niệm khó nắm bắt (Pfeffer and Coote, 1991).
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng. Bên cạnh sự thay đổi về thời gian thì từ những cách tiếp cận khác nhau cũng dẫn đến những khái niệm khác nhau về chất lượng. Như vậy, chất lượng được xem như là đích tới luôn thay đổi và luôn có tính lịch sử cụ thể; vì vậy xin nêu một số khái niệm tiêu biểu về chất lượng như sau: Viện tiêu chuẩn Anh Quốc (British Standards Institution, viết tắt là BSI) định nghĩa chất lượng là “toàn bộ các đặc trưng cũng như tính chất của một sản phẩm hoặc một dịch vụ giúp nó có khả năng đáp ứng những yêu cầu được xác định rõ hoặc ngầm hiểu” (BSI, 1991). Điều này có nghĩa, chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng.
Và cũng có thể nói, chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật hoặc là “cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia”. Chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có, trong đó yêu cầu cần được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc. Theo Từ điển tiếng Việt: “Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật”. Theo ISO 9000 (năm 2000): “Chất lượng là mức độ mà một tập hợp các đặc trưng vốn có đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng và những người khác có quan tâm”.
Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN – ISO 8402 – 86): Chất lượng của sản phẩm là tổng thể những đặc điểm, những đặc trưng của sản phẩm thể hiện được sự thỏa mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định và phù hợp với công cụ, tên gọi sản phẩm. Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5814 – 94: Chất lượng là sự tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đối tượng có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn. Chất lượng được hiểu theo khía cạnh (Theo Harvey & Green; 1993) đó là: “Chất lượng tuyệt đối” được hiểu là “sự xuất chúng, tuyệt vời, ưu tú. Xuất sắc; sự hoàn hảo; sự phù hợp, thích hợp; sự thể hiện giá trị; sự biến đổi về chất”.
Đó là cái mà hầu hết chúng ta muốn có, và chỉ một số ít có thể có được. “Chất lượng tương đối” dùng để chỉ một số thuộc tính mà người ta gán cho sản phẩm. Theo quan niệm này thì một vật, một sản phẩm hoặc một dịch vụ được xem là có chất lượng khi nó đáp ứng được các mong muốn do người sản xuất định ra và các yêu cầu mà người sử dụng đòi hỏi. Như vậy: “chất lượng tương đối” có hai khía cạnh: Thứ nhất, chất lượng là đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản xuất đề ra, ở khía cạnh này được xem là “chất lượng bên trong”.
Thứ hai, chất lượng được xem là sự thỏa mãn tốt nhất những đòi hỏi của người sử dụng, ở khía cạnh này được xem là “chất lượng bên ngoài". Vậy chất lượng là những thuộc tính phản ánh bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật. Có thể nhận thấy rằng khái niệm chất lượng là một khái niệm khó xác định và phụ thuộc vào ngữ cảnh. Nó có một phổ nghĩa từ “chuẩn mực” đến “xuất sắc”.
“Chuẩn mực có thể được hiểu bằng khái niệm ‘ngưỡng’ tối thiểu mà theo đó hiệu quả của công việc sẽ được đánh giá (Ashcroft & Foreman- Peck, 1996). Trong bối cảnh này, chất lượng đồng nghĩa với hoạt động đánh giá, được hiểu theo nghĩa nó là tập hợp các tiêu chuẩn dựa trên quy chiếu nhóm chuẩn (norm-referenced standards). Ở phía bên kia của phổ nghĩa là quan điểm xem chất lượng là sự xuất sắc (tương tự như những gì Green và Harvey gọi là vượt trội). Xuất sắc là trạng thái thành tích đặc biệt, vượt trội, không có lỗi và đạt mức hài lòng cao nhất từ các bên có liên quan.
Trong giáo dục đại học, mục tiêu của chúng ta là đạt được các “chuẩn mực” và tiến gần hơn về sự “xuất sắc”. Để đánh giá chất lượng của một hoạt động, thông thường người ta so sánh kết quả đạt được với mục tiêu đặt ra. Với cách tiếp cận này, hiệu quả của hoạt động đào tạo cũng cần phải được xem xét trong mối tương quan giữa kết quả và chi phí (theo nghĩa rộng), đồng thời có tính tới hiệu quả xã hội. Hiện nay, trong bối cảnh Việt Nam, ‘Chất lượng’ được xem là ‘phù hợp với mục tiêu’ – đáp ứng hoặc xác nhận các tiêu chuẩn đã được công nhận nói chung theo định nghĩa của một cơ quan kiểm định chất lượng hoặc một cơ quan đảm bảo chất lượng.
Do đó, chất lượng (giáo dục trường đại học) ở Việt Nam được hiểu: Là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước. Chất lượng đào tạo Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: “Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân để tạo điều kiện cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu quả”. Như vậy, đào tạo là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và quá trình có hệ thống các tri thức, kỹ năng, thái độ một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Đào tạo là một loại công việc xã hội, một hoạt động đặc trưng của giáo dục (nghĩa rộng) nhằm chuyển giao kinh nghiệm hoạt động từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Quá trình đào tạo có thể diễn ra trong nhà trường hoặc ngoài cơ sở sản xuất kinh doanh theo một ngành nghề cụ thể nhằm giúp cho người học đạt được một trình độ nhất định trong lao động nghề nghiệp. Người ta thấy rằng các định nghĩa chất lượng nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng luôn được thay đổi theo thời gian. Hiện nay, khái niệm về chất lượng đào tạo còn nhiều điểm khác nhau, do từ “chất lượng” được dùng chung cho cả hai quan niệm: Chất lượng tuyệt đối và chất lượng tương đối. Với quan niệm chất lượng tuyệt đối thì từ “chất lượng” được dùng cho những sản phẩm, những đồ vật hàm chứa trong nó những phẩm chất, những tiêu chuẩn cao nhất khó có thể vượt qua được.
Nó được dùng với nghĩa chất lượng cao, hoặc chất lượng hàng đầu. Với quan niệm chất lượng tương đối thì được hiểu theo hai khía cạnh: Thứ nhất là đạt được mục tiêu (phù hợp với tiêu chuẩn) do người sản xuất đề ra, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên trong”. Thứ hai, chất lượng được xem là sự thỏa mãn tốt nhất những đòi hỏi của người tiêu dùng, ở khía cạnh này chất lượng được xem là “chất lượng bên ngoài”. Ở mỗi cơ sở đào tạo luôn có một nhiệm vụ ủy thác, nhiệm vụ này thường do các chủ sở hữu quy định, điều này chi phối mọi hoạt động của nhà trường.
Từ nhiệm vụ được ủy thác này, nhà trường xác định các mục tiêu đào tạo của mình sao cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội để đạt được “chất lượng bên ngoài”; và các hoạt động của nhà trường sẽ được hướng vào nhằm đạt mục tiêu đào tạo đó, đạt “chất lượng bên trong”. Do đó, hiện nay cũng có nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng đào tạo: Theo tác giả Lê Đức Ngọc và Lâm Quang Thiệp (Đại học quốc gia Hà Nội) chất lượng đào tạo được đánh giá qua mức độ đạt được mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo. Theo tác giả Trần Khánh Đức, chất lượng giáo dục là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể. Theo cách tiếp cận quản lý chất lượng thì: Chất lượng đào tạo được coi là sự phù hợp và đáp ứng yêu cầu.
Chất lượng đào tạo có hai phần: phần cứng là bộ ba kiến thức, kỹ năng, thái độ người học tiếp thu trong quá trình đào tạo; phần mềm là năng lực sáng tạo và thích ứng. Chất lượng đào tạo phụ thuộc vào ba yếu tố: Hoạch định (thiết kế và xây dựng mục tiêu); Tổ chức đào tạo; Sử dụng; miền chất lượng là vùng giao nhau của ba yếu tố trên; miền chất lượng càng lớn chứng tỏ cơ sở đào tạo đã tổ chức tốt quá trình đào tạo phù hợp với mục tiêu thiết kế ban đầu đạt hiệu quả và có khả năng cạnh tranh với các cơ sở đào tạo khác. Xét dưới góc độ hệ thống các trường đại học, thì chất lượng đào tạo được hiểu là một trong các thành phần đầu ra của các trường đại học, nó được xã hội đặt hàng thông qua luật giáo dục. Xét dưới góc độ trường đại học, chất lượng giáo dục trường đại học là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học của luật giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và của ngành.
Với quan điểm tiếp cận thị trường: “Chất lượng đào tạo là mức độ đạt được so với các chuẩn của mục tiêu đào tạo và mức độ thỏa mãn yêu cầu của khách hàng”.