chương I, Luật cán bộ, công chức không bao gồm công chức cấp xã mà chỉ bao gồm công chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện (Quốc hội, 2008). Đội ngũ công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong bộ máy hành chính Nhà nước Việt Nam. Tuy vậy trong thời gian dài, khái niêm, công chức cấp xã không được đề cập đến trong các quy định pháp luật, từ Nghị định 169/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng ngày 25/5/1991 đến pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998. Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003, tại mục h, khoản 1, điều 1 đã đưa ra quan niệm mới về cán bộ công chức, lần đầu tiên đề cập đến công chức cấp xã.
Trong đó mở rộng phạm vi điều chỉnh thêm các đối tượng gồm những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã (Công chức cấp xã). Đây là lần đầu tiên công chức cấp xã có chế độ làm việc và hưởng chính sách về cơ bản như công chức nhà nước. Tuy nhiên pháp lệnh chưa quy định rõ khái niệm công chức cấp xã. Để khắc phục hạn chế của hệ thống văn bản pháp luật về công chức.
Luật cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam khóa 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 đã quy định tại khoản 3, điều 4 cụ thể ".Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước" (Quốc hội, 2010). Đây là cơ sở khẳng định địa vị pháp lý của đội ngũ công chức cấp xã, hoàn toàn độc lập và ngang hàng với đội ngũ công chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Trên cơ sở đó đội ngũ công chức cấp xã được điều chỉnh bởi một chương riêng của Luật cán bộ, công chức năm 2008 và một hệ thống Nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành riêng, cụ thể tại Điều 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính Phủ quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn và người hoạt động không chuyên trách cấp xã quy định; Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC- BLĐTB&XH ngày 27 tháng 5 năm 2010 của Bộ Nội Vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Nghị định 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn; Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn. Công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội.
Tóm lại, dù phạm vi của khái niệm công chức rộng hay hẹp, thì tầm quan trọng của lực lượng công chức đối với sự phát triển của nền công vụ nói riêng và của cả đất nước nói chung là không thể phủ nhận. Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào để nâng cao, đổi mới toàn diện chất lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ này, vì sự phát triển chung của toàn xã hội. Khái niệm chất lượng đội ngũ công chức cấp xã Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2003, định nghĩa: Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một con người, một sự vật, sự việc (Hoàng Phê, 2003). Theo Hồ Chí Minh, Người cho rằng cán bộ, công chức thì phải hội đủ các tiêu chuẩn đức và tài, phẩm chất và trình độ năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ, phong cách, phương pháp công tác tốt, trong đó phẩm chất đạo đức là yếu tố hàng đầu.
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải luôn rèn luyện người cán bộ, đảng viên có đủ đức, đủ tài, vừa hồng, vừa chuyên. Người luôn quan tâm, động viên và dìu dắt đội ngũ cán bộ, đảng viên để họ thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô tư. Đặt chữ “đức” lên hàng đầu, nhưng Bác Hồ vẫn luôn coi trọng cái “tài”. Người nhìn nhận “đức” và “tài” trong mối quan hệ biện chứng, như hai mặt không thể tách rời trong một nhân cách hoàn thiện: “ Có tài mà không có đức là người vô dụng” nhưng “có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” (Đức Vượng, 2000).
Khi đánh giá chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, một vấn đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chất lượng của đội ngũ công chức? Chất lượng của đội ngũ công chức được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau: Chất lượng của đội ngũ công chức được thể hiện thông qua hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã. Theo đó chất lượng đội ngũ công chức ở đây được xem một cách toàn diện từ trình độ, năng lực; kỹ năng, phương pháp làm việc; hiệu quả thực thi công vụ; phẩm chất, đạo đức công chức; văn hóa ứng xử cho đến sức khỏe (thể chất, tâm lý) của họ. Trong đó yếu tố trình độ; yếu tố hiệu quả thực thi công vụ và yếu tố phẩm chất, đạo đức của công chức được xem là quan trọng nhất để xem xét chất lượng đội ngũ công chức. Để nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức, cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa chất lượng với số lượng công chức.
Chỉ khi nào hai mặt này quan hệ hài hòa, tác động hữu cơ với nhau thì mới tạo lên sức mạnh đồng bộ của cả đội ngũ. Trong thực tế chúng ta cần phải chống hai khuynh hướng: - Khuynh hướng thứ nhất, là chạy theo số lượng, ít chú trọng đến chất lượng dẫn đến công chức nhiều về số lượng nhưng hoạt động không hiệu quả; - Khuynh hướng thứ hai, cầu toàn về chất lượng nhưng không quan tâm đến số lượng. Khuynh hướng này là một nguyên nhân quan trọng làm cho tuổi đời bình quân của đội ngũ công chức ngày càng cao, hẫng hụt về thế hệ. Trong giai đoạn hiện nay thì cần hơn hết là phải coi trọng chất lượng của đội ngũ công chức trên cơ sở bảo đảm số lượng hợp lý.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những đặc điểm trên có thể khái niệm: Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã là một hệ thống những phẩm chất; giá trị được kết cấu như một chỉnh thể toàn diện được thể hiện qua phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực, khả năng hoàn thành nhiệm vụ của mỗi công chức và cơ cấu, số lượng, độ tuổi, thành phần của cả đội ngũ công chức cấp xã (Nguyễn Thị Tuyết, 2014). Chính quyền cấp xã Theo quy định của Luật tổ chức Chính quyền địa phương (2015). Chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính 4 cấp. Xã, phường, thị trấn được xác định là cấp cơ sở.
Vì vậy cấp xã chính là nền tảng của hệ thống chính trị, đóng vai trò thiết thực trong việc xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước; là yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp cách mạng nước ta. Chính quyền cấp xã bao gồm Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó Hội đồng nhân dân là "Cơ quan quyền lực nhà nước tại địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên". Còn Ủy ban nhân dân là do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên (Lê Thị Liên, 2015). Xuất phát từ vị trí của chính quyền cấp xã trong hệ thống chính trị nên nó có vai trò rất quan trọng trong cơ chế thưc hiện quyền lực nhà nước của nhân dân.
Có thể khẳng định chính quyền cấp xã là cầu nối quan trọng giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Vì vậy cấp xã nói chung là cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng và kiểm nghiệm tính đúng đắn của đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong cuộc sống. Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp giải quyết các yêu cầu của nhân dân. Trong thực tế cuộc sống, khi cần có sự can thiệp của chính quyền, thì nơi người dân đến đầu tiên là chính quyền cơ sở.
Chính quyền cấp xã cũng là nơi trực tiếp đưa ra các giải pháp cần thiết theo thẩm quyền để giải quyết những yêu cầu chính đáng của người dân, tạo điều kiện cho người dân có cuộc sống bình yên, thực hiện có hiệu quả các quyền và nghĩa vụ của mình trước nhà nước và cộng đồng. Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp quyết định các vấn đề kinh tế xã hội ở địa phương. Tính hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước của 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính quyền cấp xã đóng vai trò quan trọng, chủ yếu trong việc cung cấp các dịch vụ công phục vụ nhân dân và bộ máy nhà nước. Từ đó chính quyền cấp xã giúp cho cơ quan nhà nước cấp trên có những căn cứ để hoạch định các chính sách phát triển kinh tế - xã hội sát với yêu cầu của đời sống thực tế (Nguyễn Văn Sáu và Hồ Văn Thông, 2003).
Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân địa phương để kịp thời phản ánh với cơ quan nhà nước cấp trên, giúp Nhà nước đề ra các biện pháp phù hợp với đặc điểm của mỗi địa phương.