Chương 1: Tổng quan về việc làm và cho vay giải quyết việc làm tại Ngân hàng Chính sách xã hội Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay giải quyết việc làm tại Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Quận Hà Đông Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nâng cao chất lượng cho vay giải quyết việc làm tại Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội Quận Hà Đông 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VIỆC LÀM VÀ CHO VAY GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. TỔNG QUAN VỀ VIỆC LÀM 1. Khái niệm về việc làm Việc làm là một trong những vấn đề xã hội cơ bản nhất của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định kinh tế và phát triển xã hội. Theo Bộ Luật lao động của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1994: “Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều đƣợc thừa nhận là việc làm”.
Theo quan niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO): ngƣời có việc làm là ngƣời làm việc trong các lĩnh vực, ngành nghề không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội. Nhƣ vậy, để có việc làm không chỉ vào cơ quan nhà nƣớc, vào các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, mà còn có thể làm việc ngay tại gia đình để tạo ra thu nhập. Nói chung, bất kỳ nghề nào, việc gì cần thiết cho xã hội, mang lại thu nhập cho ngƣời lao động và không bị pháp luật ngăn cấm thì đó là việc làm. Tuy nhiên những sắc thái khác nhau của các khái niệm trên mới biểu hiện việc làm nhƣ là một động từ, chƣa bao hàm sắc thái của một danh từ.
Những nội dung này biểu hiện rõ hơn ở nghĩa “làm việc” chứ chƣa phản ánh đầy đủ nghĩa của danh từ “việc làm". Trên thực tế, có trƣờng hợp ngƣời lao động có sức lao động nhƣng không có việc làm cần phải giải quyết việc làm; ngƣợc lại, có trƣờng hợp ngƣời lao động có sức lao động, có việc làm nhƣng không làm việc vì những lý do khác nhau. Nhƣ vậy, từ việc làm đến làm việc còn có khoảng cách. Để có việc làm là quan trọng nhƣng để ngƣời lao động 5 làm việc, nhất là làm việc có hiệu quả lại càng quan trọng hơn.
Từ những phân tích trên có thể đƣa ra khái niệm việc làm nhƣ sau: Việc làm là phạm trù kinh tế xã hội biểu hiện sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo những mục đích của con người (tạo ra thu nhập, ra của cải vật chất hoặc thoả mãn nhu cầu nào đó), phù hợp với những quy định của pháp luật. Tạo việc làm, theo nghĩa rộng, bao gồm những vấn đề liên quan đến việc phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn nhân lực. Quá trình đó diễn ra từ việc giáo dục, đào tạo và phổ cập nghề nghiệp, chuẩn bị cho ngƣời lao động bƣớc vào cuộc đời lao động, để tự do lao động và hƣởng thụ xứng đáng với giá trị lao động mà mình đã tạo ra. Tạo việc làm, theo nghĩa hẹp, chủ yếu hƣớng vào đối tƣợng thất nghiệp, chƣa có việc làm hoặc thiếu việc làm nhằm tạo thêm chỗ làm cho ngƣời lao động, duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp.
Vai trò của việc làm Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, nó chi phối toàn bộ mọi hoạt động của các nhân và xã hội. Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hƣởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân. Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những ngƣời không có việc làm thƣờng tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cƣ khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng…) vào những nhóm ngƣời nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hóa thấp). Việc không có việc làm trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng 6 nghề nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có.
Đối với kinh tế thì việc làm là một trong những nguồn lực quan trọng, là đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, nó là nhân tố tạo nên tăng trƣởng kinh tế và thu nhập quốc dân, giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hòa giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn đảm bảo cho nền kinh tế có xu hƣớng phát triển bền vững, ngƣợc lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của ngƣời lao động. Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên xã hội, vì vậy việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động tích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực. Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội đó đƣợc duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con ngƣời đƣợc dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ. Ngƣợc lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho ngƣời lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hƣởng xấu đến sự phát triển nhân cách con ngƣời.
Con ngƣời có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong nhiều trƣờng hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hƣởng đến lòng tự tin của con ngƣời, sự xa lánh của cộng đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội. Ngoài ra khi không có việc làm trong xã hội sẽ tạo ra các hố ngăn cách giàu nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và nó ảnh hƣởng đến tình hình chính trị. Vai trò việc làm đối với từng cá nhân, kinh tế, xã hội là rất quan trọng, vì vậy để đáp ứng đƣợc nhu cầu việc làm của toàn xã hội đòi hỏi nhà nƣớc phải có những chiến lƣợc, kế hoạch cụ thể đáp ứng đƣợc nhu cầu này. Thực trạng lao động và việc làm ở Việt Nam Việt Nam là một nƣớc đông dân và có cơ cấu dân số trẻ.
Tính đến năm 2014, dân số cả nƣớc là 90,7 triệu ngƣời, trong đó dân số trên 15 tuổi trở lên 7 ƣớc là 70,06 triệu ngƣời, chiếm 78% dân số cả nƣớc. Vì dân số đông nên lực lƣợng lao động của nƣớc ta khá dồi dào, đó là một lợi thế to lớn để phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc. Lực lƣợng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nƣớc ƣớc tính đến thời điểm 21/12/2014 là 54,48 triệu ngƣời, tăng 782 nghìn ngƣời so với cùng thời điểm năm trƣớc. Lực lƣợng lao động trong độ tuổi lao động ƣớc tính đến thời điểm trên là 47,75 triệu ngƣời, tăng 333,7 nghìn ngƣời so với cùng thời điểm năm 2014, trong đó nam chiếm 53,7%; nữ chiếm 46,3%.1: Lực lƣợng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo thành thị, nông thôn Năm Lao Động (triệu ngƣời) Cơ cấu (%) Chỉ tiêu Thành thị Nông thôn Thành thị Nông thôn 2008 13,18 35,03 27,34 72,66 2009 13,27 36,05 26,91 73,09 2010 14,11 36,29 28,00 72,00 2011 15,25 36,15 29,67 70,33 2012 15,89 36,46 30,35 69,65 2013 16,04 37,20 30,13 69,87 2014 16,42 38,06 30,14 69,86 (Nguồn: Số liệu của Tổng cục thống kê trên trang web http://www.vn) Lực lƣợng lao động của Việt Nam tuy đông và tăng nhanh nhƣng có sự phân bố không đều giữa các vùng lãnh thổ.
Lao động nƣớc ta tập trung chủ yếu khu vực nông thôn. Năm 2010, lao động nông thôn chiếm 72%, thành thị chỉ chiếm 28% trong cơ cấu lao động chung của cả nƣớc. Điều này là do ở nông thôn hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính nên cần một lực lƣợng lao động đông, diện tích đất đai ở nông thôn cũng lớn hơn. Tuy nhiên, do năng suất lao động thấp, hơn nữa, vào thời gian chuyển giao giữa các mùa, lực lƣợng lao động thiếu việc làm cao nên tỉ lệ lao động nông thôn giảm dần, góp 8 phần làm tăng tỉ lệ lao động thành thị.
Đến cuối năm 2014, cơ cấu lao động giữa thành thị và nông thôn đã thay đổi, thành thị chiếm 30,14% còn nông thôn chiếm 69,86%. Số ngƣời trong độ tuổi lao động đông không có nghĩa là thị trƣờng lao động Việt Nam đáp ứng đủ nhu cầu lao động cho các doanh nghiệp. Bởi số lao động có tay nghề, có chất lƣợng của nƣớc ta đang còn rất hạn chế. Sự chênh lệch về chất lƣợng nguồn lao động ở khu vực nông thôn và thành thị là quá lớn, ảnh hƣởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế chung của cả nƣớc.
Lao động di cƣ từ nông thôn ra thành thị tìm việc một cách tự phát cũng đang trở thành một trong những khó khăn cho vấn đề việc làm ở nƣớc ta. Mục đích chính của những lao động này lên thành phố không phải để học nghề, học việc mà tham gia vào các công việc mang tính chất thời vụ, buôn bán hoặc làm những công việc không đòi hỏi kinh nghiệm, tay nghề. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một chủ trƣơng lớn của Đảng và Nhà nƣớc. Quá trình này tất yếu làm tăng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, và làm giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp.
Bảng dƣới đây sẽ cho thấy chuyển dịch cơ cấu lao động trong những năm qua theo ba khu vực kinh tế “nông, lâm, thủy sản”, “công nghiệp và xây dựng” và “dịch vụ”: Bảng 1.2: Cơ cấu lao động của các khu vực kinh tế Năm Nông, lâm, Công nghiệp Dịch vụ Chỉ tiêu thủy sản và xây dựng 2008 52,3 19,3 28,4 2009 51,5 20,0 28,4 2010 49,5 21,0 29,5 2011 48,4 21,3 30,3 2012 47,4 21,2 31,4 2013 46,8 21,2 32,0 2014 46,6 21,4 32,0 (Nguồn: Số liệu của Tổng cục thống kê trên trang web http://www.vn) 9 Giai đoạn 2008 – 2014, tỷ trọng trong các ngành Công nghiệp và xây dựng tăng 1,9% và ngành dịch vụ tăng 3,6%, trong khi đó ngành nông, lâm, thủy sản lại giảm 5,7%.