Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức 1. Khái niệm công chức, viên chức, người lao động. Trong bộ máy nhà nước ở nước ta thì cơ quan hành chính, sự nghiệp nhà nước là một bộ phận quan trọng và Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước là một chỉnh thể thống nhất của nhiều chính quyền đơn vị, trực thuộc thống nhất cả mặt tổ chức và hoạt động nhằm đưa pháp luật vào đời sống, duy trì sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để vận hành và thực thi mọi hoạt động của hệ thống hành chính cần có một lực lượng không chỉ lực lượng công chức, viên chức mà còn cả một lực lượng lớn người lao động trong cơ quan hành chính sự nghiệp trên phạm vi cả nước vừa tuân theo quy định của pháp luật vừa phục vụ nhu cầu hợp pháp của nhân dân trong việc sử dụng quyền và song song với đó là thực thi nghĩa vụ công dân. Khái niệm công chức, viên chức, người lao động Từ khi thành lập Đảng, Nhà nước ta đã dần cụ thể hóa khái niệm công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan hành chính sự nghiệp trong các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tuyển dụng, sử dụng và quản lý hiệu quả nguồn cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp. Theo Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và Nghị định số 95/0998/NĐ- CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, thì: Công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng. Ở quy định này mới chỉ cho thấy khái niệm chung chung, chưa phân biệt rõ về cán bộ, công chức, viên chức và để khắc phục tình trạng này, hiện nay các khái niệm về cán bộ, công chức, viên chức đã được thể hiện rõ tại các văn bản luật, cụ thể: 6 - Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008).
- Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (Điều 2, Luật Viên chức năm 2010). - Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước (Điều 9, Luật Viên chức năm 2010) và là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. - Người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập là người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong số lượng người làm việc đã được xác định trong Đề án vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp hoặc số lượng người làm việc được xác định trên cơ sở định biên bình quân các năm trước được cấp có thẩm quyền phê duyệt tại các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Chính phủ (Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập). - Công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị sự nghiệp là công dân, cá nhân, do vậy chất lượng công chức, viên chức, người lao động được xem xét tới 7 các yếu tố như: phẩm chất, đạo đức, trình độ, năng lực chuyên môn, ý thức tổ chức kỷ luật, trách nhiệm, khả năng giao tiếp trong thực thi công vụ, nhiệm vụ… - Đội ngũ công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập là tập hợp nhiều công chức, viên chức, người lao động (tập thể).
Do vậy, quản lý chất lượng công chức, viên chức, người lao động chính là việc quản lý chất lượng của tập thể, như; sự đoàn kết, thống nhất ý chí; mức độ gắn kết trong phân công, phối hợp để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chung… Chất lượng tập thể công chức, viên chức, người lao động trong đơn vị sự nghiệp công lập được xem xét, thể hiện trên các phương diện: Số lượng công chức, viên chức, người lao động, bao gồm số lượng công chức trong mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị và số lượng tổng hợp chung của cả đội ngũ làm việc trong bộ máy nhà nước các cấp; cơ cấu công chức, viên chức, người lao động, được xác định cụ thể qua các tiêu chí như: độ tuổi, giới tính, vị trí công tác, trình độ đào tạo, đảng viên, dân tộc, tôn giáo…; chất lượng công chức, viên chức, người lao động, thể hiện một phần qua cơ cấu, qua chất lượng cá nhân mỗi công chức, viên chức, người lao động và chất lượng tập thể công chức, viên chức, người lao động ở mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị trong bộ máy nhà nước. Khái niệm chất lượng công chức, viên chức Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau lại có những quan điểm về chất lượng khác nhau. Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản năm 2000: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” [11, tr. Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ công chức không hoàn toàn giống với chất lượng của các loại hàng hóa, dịch vụ, bởi con người là một thực thể phức tạp.
Hơn nữa, mỗi cá nhân CCVCNLĐNLĐ không thể tồn tại biệt lập mà phải được đặt trong mối quan hệ với cả tập thể. Đội ngũ công chức, viên chức bao gồm những người đang làm việc trong cơ quan hành chính Nhà nước, xét trong mối quan hệ với nguồn nhân lực, là một bộ phận cấu thành của NNL của tổ chức công và là một tập con của hệ thống nguồn nhân lực xã hội. Với những đặc điểm này, những tiêu chí phản ánh chất lượng NNL cũng cơ bản phản ánh chất lượng công chức, viên chức. 8 Chất lượng công chức, viên chức là tập hợp tất cả những đặc điểm, thuộc tính của từng công chức,viên chức phù hợp với cơ cấu, đáp ứng được yêu cầu theo nhiệm vụ và chức năng của cơ quan, đơn vị, đồng thời là tổng hợp những mối quan hệ giữa các cá nhân công chức viên chức với nhau; sự phối kết hợp hoạt động trong thực thi nhiệm vụ chung nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu chung một thời điểm nhất định của đơn vị.
Nói đến chất lượng từng công chức, viên chức được biểu hiện cụ thể thông qua tình trạng sức khỏe để làm việc; tiếp đến là chất lượng lao động, khả năng triển khai, hoàn thành nhiệm vụ được giao; thái độ, tinh thần phục vụ nhân dân trong thực thi công việc; trình độ, năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, chính trị; khả năng thích ứng với điều kiện cải cách hành chính đang diễn ra ngày càng sâu rộng như hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà còn hội nhập quốc tế. Ngoài ra, chất lượng đội ngũ công chức, viên chức còn được thể hiện ở mối quan hệ giữa công chức, viên chức với nhau: sự phối kết hợp trong công tác, triển khai nhằm hoàn thành nhiệm vụ; giúp đỡ, ủng hộ nhau trong cả quá trình lao động. Chất lượng đội ngũ CBCCVC là chỉ tiêu tổng hợp, đánh giá sức khỏe, phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng thích ứng của đội ngũ CBCCVC đối với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đặt ra. Khi đó, nâng cao chất lượng đội ngũ CCVCNLĐNLĐ là tập hợp những giải pháp có tác động tích cực đến chất lượng của từng CCVCNLĐNLĐ trong các cơ quan hành chính nhà nước cũng như mối quan hệ giữa các cá nhân trong tập thể, tinh thần phối hợp trong thực thi công vụ nhằm hoàn thành công việc chuyên môn và hướng tới mục tiêu Kinh tế- xã hội, An ninh quốc phòng mà đơn vị đặt ra.
Việc nâng cao chất lượng đội ngũ CCVCNLĐNLĐ được thực hiện thông qua các hoạt động: tuyển dụng, quy hoạch, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ, tạo động lực, đánh giá, xếp loại và kiểm tra giám sát đội ngũ CCVCNLĐNLĐ. Đội ngũ CCVCNLĐNLĐ là lực lượng mang tính chất đặc thù, không giống với những lực lượng nguồn nhân lực khác do vị trí và vai trò đặc biệt gần gũi trực tiếp với nhân dân, chính vì vậy Đảng và nhà nước đã hết sức quan tâm làm sao để chất lượng công chức, viên chức ngày càng được nâng cao. 9 Vai trò và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng cán bộ, công chức Chất lượng của công chức hành chính Nhà nước cho phép hoàn thành các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính Nhà nước, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý Nhà nước và cũng là điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong công tác quản lý Nhà nước.