Chương 1: Tổng quan về an toàn giao thông đường bộ và tình hình tai nạn giao thông trong nước và trên thế giới. Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân gây tai nạn giao thông trên tuyến Quốc lộ 1K. Chương 3: Các biện pháp khắc phục tai nạn giao thông và nâng cao ATGT trên Quốc lộ 1K. 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ VÀ TÌNH HÌNH TAI NẠN GIAO THÔNG TRONG NƢỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI 1.
Tổng quan về tình hình an toàn giao thông trên thế giới Xã hội ngày càng phát triển, các phương tiện giao thông ra đời phục vụ cho đi lại, vận chuyển hàng hóa… của người dân, nó mang lại rất nhiều lợi ích, sự thuận tiện cho loài người. Sự phát triển của giao thông kéo theo sự đi lên mạnh mẽ của nền kinh tế và cơ sở hạ tầng toàn thế giới. Bên cạnh những lợi ích rất nổi bật đó thì một vấn đề rất bức xúc mà nó mang lại đó là tai nạn giao thông (TNGT) gây rất nhiều thiệt hại về tính mạng con người và của cải. Để định nghĩa về TNGT đó là: “Tai nạn giao thông là sự việc bất ngờ xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện giao thông khi đang di chuyển trên đường giao thông, do vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hay do gặp những tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây nên thiệt hại nhất định về người và tài sản”.
Quan điểm này đã trình bày một cách đầy đủ các nguyên nhân gây TNGT không chỉ đơn thuần là các yếu tố chủ quan và khách quan của con người mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc thiết kế, thi công, quản lý các công trình giao thông… Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới WHO năm 2013 thì mỗi năm thế giới có khoảng 1,2 triệu người chết vì tai nạn giao thông (TNGT) và 50 triệu người khác bị thương trong các tai nạn đó, năm 2000 TNGT là nguyên nhân thứ 9 gây tử vong ở người nếu tình trạng này không có các biện pháp kịp thời ngăn chặn thì đến năm 2020 TNGT sẽ là một trong 3 nguyên nhân lớn gây tử vong ở người. Cũng theo WHO trung bình một ngày có hơn 3000 người chết trong các TNGT trên toàn thế giới và các nạn nhân thường rơi vào độ tuổi từ 15 đến 44 tuổi, cứ 30 giây lại có một người chết và cứ 3 phút lại có một trẻ em chết. TNGT gây tổn thất từ 1% đến 5% thu nhập quốc dân của các nước. Các nước nghèo và đang phát triển có tỷ lệ TNGT cao hơn các nước công nghiệp phát triển do ý thức người tham gia giao thông, chất lượng phương tiện và cơ sở hạ tầng kỹ thuật kém.5 23 Tây Ban Nha 25 3.9 0 5 10 15 20 25 30 Tây Ban Anh Mỹ Đức Ý Pháp Nhật Bản Việt Nam Nha 1996 9.1 Số người chết vì TNGT trên 100.000 người dân [Nguồn : tổ chức y tế thế giới WHO] Từ Biểu đồ 1.1 ta thấy số người chết vì TNGT trên 100.000 người dân từ năm 1996, 2008 đến 2013 của các nước phát triển đều giảm trong khi đó số người chết trên 100.000 người dân của Việt Nam và Tây Ba Nha lại tăng nguyên nhân chính là do sự ra đời mạnh mẽ của các phương tiện giao thông trong khi đó cơ sở hạ tầng kỹ thuật không được nâng cấp mở rộng đi kịp sự phát triển của phương tiện, chất lượng phương tiện, ý thức người tham gia giao thông tại các nước này kém.
Tại châu âu số người chết vì TNGT là 11/100. Tại Nam Phi được coi là nơi có các vụ TNGT xảy ra nhiều nhất, theo thống kê thì mỗi năm các nước này xảy ra hơn 500.000 vụ TNGT làm hơn 100.000 người chết.Ở châu Mỹ mỗi năm có đến 134.000 người thiệt mạng vì TNGT và đứng đầu là Mỹ với 44.000 người sau đó là Brazil, Mêxicô, Venezuela. Còn ở Nga theo thống kê 5 của WHO năm 2003 tại Nga có tới 35.600 người thiệt mạng và 244.000 người bị thương vì TNGT gây thiệt hại cho nền kinh tế 1,1 tỷ USD.2 Tỷ lệ số người chết/100.000 dân của một số nước khu vực châu Á [Nguồn: BCGK CLĐB TTATGTĐBQG – 8/2010] Theo Biểu đồ 1.2 thì tại khu vực Châu Á trong những năm gần đây số vụ TNGT tại khu vực này cao gấp hai lần so với thế giới đứng đầu là Malaysia với 23,67 người chết/100.000 người dân, tiếp theo là Thailand và đúng thứ 3 là Việt Nam với 15,03 người chết/100.000 người dân. Theo thống kê năm 2005 có gần 440.000 người chết vì TNGT.
Dự báo với đà phát triển Giao Thông Vận Tải (GTVT) như hiện nay thì đến 2020 số người chết do TNGT tại châu á sẽ vượt số người chết do nhiễm HIV và lao phổi. Khu vực Đông Nam Á là khu vực tập trung các nước đang phát triển trong những năm gần đây tình hình giao thông tại khu vực được cải thiện rõ rệt nhưng tình trạng ùn tắc và tai nạn giao thông vẫn xảy ra liên tục, đứng đầu là Thái Lan tiếp theo là Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Philippins…tình trạng giao thông ở các nước này đang là một vấn đề cấp bách, các nước cần có những giải pháp cụ thể để nâng cao an toàn giao thông đường bộ (ATGTĐB).1 TNGTĐB các nước ASEAN năm 2005 TT Quốc gia Số ngƣời chết/năm Số ngƣời bị thƣơng/năm 1 Thái Lan 13.231 9 Brunei 28 645 Tổng cộng 43. Tổng quan về tình hình an toàn giao thông ở Việt Nam. Tình hình giao thông đường bộ ở Việt Nam qua các năm Tại Việt Nam hiện tại chúng ta có 4 loại hình giao thông: Đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không trong đó giao thông chủ yếu tập trung trên đường bộ do tính cơ động và những thuận tiện mà nó mang lại do vậy các TNGT cũng chủ yếu tập trung ở đường bộ chiếm 94% tổng số vụ tai nạn xảy ra.
TNGTĐB tại Việt Nam nằm trong tình trạng chung của các nước phát triển và có nguy cơ tăng cao.Hằng năm tại Việt Nam có khoảng 11.500 người chết vì TNGTĐB, mỗi ngày có khoảng 30 người chết và hàng trăm người khác bị thương.Số lượng người chết vì TNGTĐB chiếm khoảng 50% tổng số người chết do các nguyên nhân khác nhau. Theo ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) thì số tiền chi cho tai nạn giao thông hàng năm ở nước ta đã lên tới 885 triệu USD không những thế bên cạnh đó còn tốn một nguồn rất lớn nhân lực và các thiết bị y tế để điều trị, phục hồi chức năng cho các nạn nhân sau tai nạn và số tiền này đã chiếm 5,5% tổng ngân sách nhà nước năm 2005 [9]. Theo thống kê năm 2010 cả nước có 14.442 vụ TNGT làm chết 11.449 người, bị thương 10.633 người trong đó TNGTĐB là 13.700 vụ làm chết 11.066 7 người, số vụ TNGT đường sắt là 482 vụ làm 23 người chết.TNGT đường thủy là 196 vụ là chết 146 người ta thấy số người chết vì TNGTĐB là cao nhất. Tỷ lệ TNGT theo các loại hình giao thông được thể hiện theo biểu đồ sau: Biểu đồ 1.3 Tỉ lệ TNGT theo loại hình giao thông năm 2009 [Nguồn: BCGK CLĐB TTATGTĐBQG – 8/2010] Theo Biểu đồ 1.3 thì TNGTĐB chiếm nhiều nhất là 94% tiếp theo là đường sắt 3,75%, rồi đến đường thủy 1,58% và cuối cùng là đường biển 0,55%, gần đây do sự phát triển mạnh của hệ thống giao thông kết hợp với các biện pháp tổ chức giao thông hợp lý lượng tai nạn giao thông đã giảm đáng kể nhưng số tai nạn đặc biệt nghiêm trọng lại tăng lên nên những thiệt hại mà nó gây ra là rất lớn.
Giao thông phát triển kéo theo sự gia tăng đáng kể các loại phương tiện giao thông (PTGT)và tập trung chủ yếu vào lượng xe máy.Ngày càng nhiều xe máy được đưa vào việt nam.4 Sự gia tăng PTGT cá nhân ở Việt Nam (1991-1996) [Nguồn : Báo cáo ATGTĐB năm 2006 của Tổng cục Đường bộ Việt Nam] 8 Theo Biểu đồ 1.4 ta thấy trong 5 năm(từ năm 1991 đến 1996) số lượng xe gắn máy tại Việt Nam tăng 2,76 lần và đặc biệt tăng mạnh vào các năm từ 1992 đến 1994 nhưng số lượng xe ôtô cá nhân tăng chậm do giá thành xe cao và hạ tầng kỹ thuật chưa thuận tiện. Cũng theo thống kê Biểu đồ 1.5 thì từ năm 1999 đến năm 2009 lượng xe máy ở Việt Nam đã tăng 30 triệu xe đây là một con số rất lớn và cũng là một trong những nguyên nhân lớn gây TNGT và ùn tắc giao thông (UTGT).Lượng xe ôtô tăng chậm vào các năm 1999 – 2001 nhưng từ năm 2007 đến năm 2009 số lượng xe ôtô bắt đầu tăng do sự phát triển của cơ sở hạ tầng. Xe máy ở Việt Nam với rất nhiều loại, mẫu mã với chất lượng khác nhau, bên cạnh những chiếc xe hiện đại, đảm bảo được những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn an toàn(các loại xe này thường bán với giá cao) thì lại có những xe kém chất lượng(giá thành rất rẻ) như:xe tự chế tạo, xe cũ tái chế…Có nhiều xe máy do Trung Quốc sản xuất với giá thành rất rẻ nên khi đưa vào việt nam nó đã tiêu thụ được một ượng khá lớn nhưng chất lượng của các xe này hầu như không đảm bảo. 35000 30000 25000 20000 Tổng 15000 số 10000 Ô-tô 5000 0 2007 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2008 2009 2010 Biểu đồ 1.5 Phát triển phương tiện GTĐB cả nước từ năm 1999 – 2009 [ Nguồn : BCGK CLĐB TTATGTĐBQG – 8/2010 ] Bên cạnh đó vấn dề bảo dưỡng xe ít được các chủ xe quan tâm, hầu hết chủ phương tiện chỉ sửa chữa, kiểm tra xe khi có xẩy cố xảy ra mà ít khi kiểm tra bảo dưỡng định kỳ.Mặt khác tại Việt Nam không có một đơn vị riêng quản lý chất lượng của các loại xe này nên khi chúng chạy trên đường yếu tố an toàn là rất ít, rất dễ gây TNGT.
*Số vụ TNGTĐB /10.000 phương tiện cả nước: 9 Biểu đồ 1.000 phương tiện cả nước [ Nguồn : BCGK CLĐB TTATGTĐBQG – 8/2010 ] Theo hình 1.4 trong giai đoạn các năm 1999-2002 số lượng người chết/10.000 phương tiện giao thông là khá lớn(trên 10 người) sau đó giảm dần, nếu năm 2009 số vụ TNGTĐB/10.000 phương tiện là 35 vụ thì đến năm 2006 chỉ còn là 7,5 vụ nhưng tính chất của chúng ngày càng nghiêm trọng và so với khu vực thì đây vẫn là một con số lớn.