CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT TRONG XÂY DỰNG HẠ TẦNG GIAO THÔNG ĐÔ THỊ 1. Đất và nguyên tắc sử dụng đất 1. Khái niêm ̣ đất, đất đô thi, quản lý sử dụng đất 1. Khái niệm đất đai Theo thông tư số 14/2012/TT-BTNMT ban hành quy định kỹ thuật điều tra thoái hóa đất có giai thích: “ Đất là tầng mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cây trồng.Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người.
Khái niệm đất đô thị Theo quy chuẩn xây dựng Việt Nam QCXDVN 01:2008/BXD về quy hoạch xây dựng: “ Đất đô thị là đất nội thành phố, đất nội thị xã và đất thị trấn. Đất ngoại thành, ngoại thị đã có quy hoạch và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt để phát triển đô thị được quản lý như đất đô thị.” Đất đô thị có nhiều loại khác nhau nằm trong ranh giới hành chính của các đô thị và được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau. Đất đô thị bao gồm: đất ở tại đô thị, đất xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, đất sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế, đất xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị; đất nông nghiệp, đất làm vườn, đất lâm viên; đất di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng và an ninh; đất ngoại thành, ngoại thị, đất chưa sử dụng được quy hoạch để phát triển đô thị. Khái niệm quản lý sử dụng đất Quản lý sử dụng đất là các biện pháp của Nhà nước về tổ chức, quản lý nhằm sử dụng đất đai đầy đủ, hợp lý trên cơ sở nhu cầu phát triển đô thị, đặc tính của đất đai nhằm thu được hiệu ích tổng thể trong phát triển đô thị.
Vai trò của đất Theo luật đất đai số 24-L/CTN ngày 14/07/1993 của Quốc hội: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay;” 1. Nguyên tắc sử dụng đất Nguyên tắc quản lý và sử dụng đất đô thị đã được quy định cụ thể tại Điều 6 Luật đất đai năm 2013: “Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất. Tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh.
Người sử dụng đất thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan. Giao thông đô thị 1. Khái niêm ̣ và vai trò của hạ tầng giao thông đô thị 1. Khái niệm hạ tầng giao thông đô thị “Kết cấu hạ tầng đô thị là những tài sản vật chất và các hoạt động hạ tầng có liên quan dùng để phục vụ các nhu cầu kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư đô thị.
Trên thực tế, kết cấu hạ tầng là cơ sở nền tảng đảm bảo sự phát triển bền vững của cả một hệ thống đô thị quốc gia nói riêng và sự phát triển bền vững của một quốc gia nói chung.” – Giáo trình Quản lý đô thị Từ đó có thể hiểu qua khái niệm trên kết cấu hạ tầng GTVT là hệ thống các công trình kiến trúc, phương tiện và công trình vật chất kỹ thuật về tổ chức cơ sở hạ tầng làm cơ sở cho ngành GTVT nói riêng và nền kinh tế nói chung phát triển. Kết cấu hạ tầng GTVT gồm hệ thống các bến bãi, sân bay, nhà ga, cảng sông, cảng biển, đường,cầu và hệ thống trang thiết bị phụ trợ: đèn đường, biển báo, thông tin tín hiệu. Vai trò hạ tầng giao thông đô thị Kết cấu hạ tầng GTVT đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế quốc dân. Trong mọi thời kỳ, hoạt động vận chuyển hành khách và lưu thông hàng hóa luôn diễn ra một cách nhộn nhịp.
Một hệ thống giao thông không đảm bảo tiêu chuẩn, đầy đủ thì các phương tiện vận tải sẽ không thể hoạt động tốt được, nhanh chóng khi vận chuyển hàng hóa và hành khách và không đảm bảo an toàn. Vì vậy, chất lượng của các công trình hạ tầng giao thông là một trong những yếu tố đầu tác động đến chất lượng hoạt động vận tải nói riêng và sự phát triển kinh tế nói chung. Một xã hội ngày càng phát triển đòi hỏi cơ sở hạ tầng giao thông cũng phải được đầu tư một cách hợp lý để đáp ứng nhu cầu vận tải tăng nhanh như hiện nay. Nguyên tắc quy hoạch hạ tầng giao thông đô thị - Mạng lưới giao thông đô thị phải được thiết kế thành một hệ thống thống nhất.
- Quy mô tính chất của hệ thống giao thông phải phù hợp với yêu cầu vận tải và đặc tính của các phương tiện giao thông. - Tuân thủ các quy chuẩn tiêu chuẩn, tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế trong thiết kế; đảm bảo có đất dự phòng phát triển và hành lang an toàn cho các tuyến trục chính. - Bố trí các đầu mối giao thông hợp lý, thuận lợi cho chuyển tiếp. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý sử dụng đất trong xây dựng hạ tầng giao thông đô thị Quản lý sử dụng đất đai hợp lý trong xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông là việc dựa trên vị trí không gian công dụng và đặc tính của đất đai, thực hiện các biện pháp khai phá, sự dụng, cải tạo.
đối với đất đai tại khu vực nhất định và thời gian xác định nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động mạng lưới GTVT đáp ứng nhu cầu phát triển KTXH, an ninh quốc phòng với diện tích chiếm dụng và chi phí sử dụng đất và tác động đến môi trường thấp nhất. Nhân tố tự nhiên Nhân tố tự nhiên có tác động lớn đến khả năng sử dụng đất đai. Các nhân tố địa hình địa chất, khí hậu môi trường. có tác động đến phương án sử dụng đất, kết cấu công trình, điều kiện khai thác.
Nhân tố kinh tế xã hội Điều kiện kinh tế và nhu cầu của xã hội quyết định việc xác định phương hướng sử dụng đất. Kinh tế phát triển tạo ra nhu cầu về lưu thông hàng hóa và hành khách. Dọ vậy cần một nguồn vốn lớn để đầu tư mở rộng mang lưới giao thông. Kinh tế không những tác động con người vào việc sử dụng đất mà còn là nguồn lực to lớn cho việc biến đất hoang thành đất hữu ích.
Nhân tố vận tải Vận tải là yếu tố trực tiếp tác động đến việc phát triển mạng lưới giao thông. Thông qua yêu cầu của vận tải về phương tiện, tốc độ,.mà quyết định diện tích đất chiếm dụng của công trình. Mối quan hê ̣ giữa quản lý sử dụng đất và giao thông đô thị Đất đô thị và giao thông đô thị đều là nền tảng, kết cấu hạ tầng phục vụ cho mọi hoạt động của đô thị. Đất đô thị cung cấp diện tích, không gian, bề mặt cho các hoạt động giải trí, sinh hoạt, sản xuất của đô thị.
Giao thông cung cấp hạ tầng phục vụ cho việc vận chuyển hành khách và hàng hóa. Hai đối tượng nay luôn tồn tại mối quan hệ tương hỗ. Cũng giống như một số ít quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam, quy hoạch đô thị (quy hoạch sử dụng đất) và quy hoạch giao thông chịu trách nhiệm bởi các cơ quan khác nhau và thường được xem là các hoạt động khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng giao thông và hình hài, đặc điểm của các đô thị phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ tương tác phức tạp giữa hai vấn đề này.
Lịch sử hàng trăm, thậm chí hàng nghìn năm trước chỉ ra rằng, các đô thị chỉ được hình thành ở các vị trí gần sông hay biển, nơi mà giao thông đường thủy có thể được thực hiện. Chỉ đến khi các loại hình phương tiện vận tải khác được phát minh và trở nên phổ biến như đường sắt, ô tô thì các các thành phố mới được mở rộng hơn, cũng như được xây dựng ở những vị trí khác. Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Việc cơ giới hóa các phương tiện giao thông đã làm thay đổi hoàn toàn, không những là vị trí mà còn ở hình hài và cấu trúc của các đô thị.
Ngày trước, các đô thị thường nhỏ, trong phạm vi đi bộ, sau đó phạm vi đi xe đạp trong vòng bán kính khoảng 3 - 5km. Điều này bắt buộc người dân phải sống tập trung với mật đô dân cư ở trung tâm rất lớn. Sau đó, khi phương tiện cơ giới phát triển, cho phép 12 người dân sống xa hơn ở vùng ngoại ô, dọc theo các hành lang và di chuyển vào trung tâm, làm dãn dân cư trong khu nội đô làm cho vùng đô thị dần dần phát triển rộng hơn. Kinh nghiê ̣m mô ̣t số nước trên thế giới về quản lý sử dụng đất đai hợp lý trong xây dựng giao thông đô thị.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc: Chính phủ Hàn Quốc khi lập quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông, sẽ quy hoạch sử dụng phần diện tích đất lớn hơn diện tích cần thiết để xây dựng công trình. Đối với đất của người dân, Chính phủ sẽ bỏ tiền ra để mua đất, đền bù thỏa đáng, qua đó công việc giải phóng mặt bằng được diễn ra một cách thuận lợi, nhanh chóng. Phần đất không dùng để xây dựng sẽ được cho tư nhân khai thác, đầu tư. Từ việc cho các tư nhân đầu tư khai thác phần đất không sử dụng này đã mang lại hiệu quả và nguồn thu lớn từ việc xây dựng nhà ở, trung tâm thương mai để bán và cho thuê.
Chính phủ Hàn Quốc còn ban hành nhiều quy định, chính sách về việc sử dụng, khai thác tài sản hạ tầng giao thông đồng bộ, tránh lãng phí nguồn vốn đầu tư.