Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động Marketing và phát triển thị trường của doanh nghiệp Chương 2: Thực trạng hoạt động Marketing của Công ty Viễn thông Di động Toàn cầu_Chi nhánh TP Hồ Chí Minh Chương 3: Giải pháp marketing nhằm phát triển thị trường của Công ty Viễn thông Di động Toàn cầu_Chi nhánh TP Hồ Chí Minh. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Giới thiệu tổng quan về Marketing. Khái niệm, chức năng, mục tiêucủa Marketing.
Khái niệm Marketing. Marketing là một thuật ngữ chuyên môn có nội dung rất rộng nên khó có thể dịch ra các thứ tiếng khác nhau một cách trọn vẹn, hoàn chỉnh.Phần lớn các nước không nói tiếng Anh đều sử dụng nguyên vẹn thuật ngữ này và dùng như một thuật ngữ chuẩn của mình. Nước ta hiện nay cũng dùng từ Marketing. Tuy nhiên thuật ngữ Marketing có thể tạm dịch là tiếp cận thị trường hay gọn hơn là tiếp thị.
Cho đến nay thì có nhiều định nghĩa về Marketing, mỗi định nghĩa phản ánh một số đặc trưng nào đó của nội dung Marketing. Ta xét một số định nghĩa sau: 1. Theo Philip Kotler: Marketing là một chức năng kinh doanh nhằm xác định nhu cầu và ước muốn của khách hàng, xác định thị trường mục tiêu phục vụ tốt nhất, thiết kế sản phẩm và dịch vụ, xây dựng chương trình hoạt động phù hợp để phục vụ cho thị trường mục tiêu này. Định nghĩa của Hiệp hội Marketing Mỹ: - Marketing là việc tiến hành các hoạt động có liên quan đến việc chuyển sản phẩm, dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
- Marketing là một tiến trình bao gồm vạch kế hoạch và thực hiện các quan niệm, định giá, khuyến mãi, sự phân phối các tư tưởng, hàng hóa, dịch vụ để tạo ra một sự thay đổi có khả năng làm thỏa mãn các mục tiêu khác nhau của cá nhân và các tổ chức. Định nghĩa của viện quản lý Malaysia: Marketing là một nghệ thuật kết hợp, vận dụng các nỗ lực cần thiết nhằm khám phá, sáng tạo, thỏa mãn nhu cầu của khách hàng để thu được lợi nhuận. Định nghĩa của viện nghiên cứu Marketing Anh: Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và thực hiện toàn bộ các hoạt động kinh doanh 5 từ việc phát hiện và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể đến việc đưa lô hàng đó đến tay người tiêu dùng nhằm đảm bảo cho công ty thu được lợi nhuận như dự định. Qua đây, có thể định nghĩa một cách tổng quát, đơn giản về Marketing: Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người.
Chức năng của Marketing 1. Chức năng làm thích ứng sản phẩm với thị trường Thị trường luôn biến động, doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải thường xuyên làm cho sản phẩm của mình thích ứng với nhu cầu thị trường mà công cụ không thể thiếu được là Marketing. Tuy nhiên, marketing không làm công việc của nhà thiết kế, chế tạo sản phẩm mà nó chỉ dẫn cho phòng kỹ thuật cần phải sản xuất sản phẩm gì, hình thức chất lượng như thế nào, số lượng bao nhiêu và thời điểm nào đưa ra thị trường? Có thể nói Marketing là kim chỉ nam hướng dẫn các nhà kỹ thuật cải tiến, đổi mới sản phẩm. Chức năng phân phối Bao gồm toàn bộ các hoạt động nhằm tổ chức vận động tối ưu các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra đến tay người tiêu dùng.
Đó là việc lựa chọn, tổ chức và quản lý các kênh phân phối hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Chức năng phân phối gồm 4 nội dung sau: - Lựa chọn khách hàng: người bán buôn, người bán lẻ, khách hàng cuối cùng. - Hướng dẫn khách hàng về thủ tục mua hàng, giao hàng, hình thức thanh toán. - Tổ chức các dịch vụ hỗ trợ cho người tiêu dùng.
- Đảm bảo sự thông suốt của các kênh phân phối, phát hiện và xử lý kịp thời các ách tắc. Chức năng xúc tiến hỗn hợp Bao gồm các nội dung quảng cáo, tuyên truyền, giới thiệu về sản phẩm cũng như bản thân doanh nghiệp, thăm hỏi khách hàng, chào hàng. Để thực hiện 3 chức năng trên, các hoạt động Marketing bao gồm: a. Nghiên cứu thị trường (thu thập thông tin thị trường) 6 b.
Lựa chọn các công cụ, kỹ thuật tác động đến thị trường, gồm: - Chính sách sản phẩm (Product) - Chính sách giá cả (Price) - Chính sách phân phối (Place) - Chính sách xúc tiến, yểm trợ (Promotion). Bốn chính sách này còn được gọi là 4 biến số của thị trường.Nó nằm trong khả năng kiểm soát của doanh nghiệp.Tài năng của các nhà kinh doanh thể hiện ở chỗ biết kết hợp một cách khéo léo bốn biến số này trong từng trường hợp cụ thể để đạt được mục tiêu mong muốn. Mục tiêu của marketing - Tối đa hóa mức độ tiêu dùng của khách hàng: Việc xác lập mục tiêu này của marketing dựa trên một giả định là khi con người càng mua sắm và tiêu dùng nhiều hơn thì họ càng cảm thấy hạnh phúc hơn. Những người làm marketing cho rằng marketing tạo điều kiện dễ dàng và kích thích tiêu dùng tối đa, nhờ đó sẽ thúc đẩy sản xuất, tạo ra nhiều công ăn việc làm và đem lại sự thịnh vượng tối đa.
Theo quan điểm này thì “ càng nhiều càng tốt ” (more is better). Tuy nhiên nhiều người tỏ ra nghi ngờ luận điểm tiêu dùng càng tăng có nghĩa là con người càng hạnh phúc hơn. - Tối đa hóa khả năng lựa chọn của khách hàng: Mục tiêu này được đưa ra nhằm gia tăng sự đa dạng của sản phẩm và khả năng lựa chọn của người mua với hàm ý rằng người tiêu dùng có nhiều khả năng hơn để lựa chọn, do đó họ có thể tìm mua đúng loại hàng nào thỏa mãn được ước muốn của họ, làm cho họ cảm thấy hài lòng nhất. Tuy nhiên, ở đây vẫn có vấn đề là giá thành của món hàng có thể tăng lên, phải mất nhiều thời gian hơn để khảo sát, đánh giá các loại sản phẩm cạnh tranh trước khi đi đến một quyết định mua.
Và có nhất thiết số loại sản phẩm nhiều hơn sẽ làm tăng khả năng lựa chọn thực tế không? Một số người cho rằng hiện nay trên thị trường, mỗi loại hàng hóa có quá nhiều nhãn hiệu, song giữa chúng lại có quá ít sự khác biệt. Thêm vào đó khi người ta có quá nhiều thứ để lựa chọn thì việc lựa chọn sẽ trở nên khó khăn hơn. Vì thế, công việc của người làm marketing là biết xác định các loại sản phẩm (product lines) có cấu trúc hợp lý và khéo léo kết hợp chúng 7 trong một danh mục sản phẩm (product mix) nhằm tạo cơ hội cho khách hàng có thể chọn mua đúng những gì họ mong muốn để thỏa mãn nhu cầu. - Tối đa hóa lợi nhuận trên cơ sở tối đa hóa mức độ hài lòng của khách hàng: Theo quan điểm marketing, doanh nghiệp chỉ có thể đạt được các mục tiêu kinh doanh của mình dựa trên những nỗ lực nhằm gia tăng sự thỏa mãn của khách hàng.
Nhưng trên thực tế,việc gia tăng sự thỏa mãn của khác hàng luôn gặp phải những trở ngại khó vượt qua do bị chi phối bởi nhiều yếu tố tác động trái chiều nhau. Với nguồn lực giới hạn, mỗi doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh phải cố gắng sử dụng hợp lý để đáp ứng yêu cầu của các nhóm lợi ích khác nhau và việc gia tăng sự thỏa mãn của nhóm người này có thể làm phương hại đến lợi ích của nhóm người khác. Ngoài ra, việc gia tăng lợi ích của người tiêu dùng đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ thêm chi phí trên cơ sở nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, điều mà không phải bao giờ cũng có thể thực hiện được. Nội dung hoạt động marketing của doanh nghiệp 1.
Nội dung nghiên cứu thị trường 1. Nghiên cứu thị trường khách hàng Là nghiên cứu về người mua hay sẽ mua sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp. Cần phải phân biệt giữa khách hàng tổ chức và khách hàng hộ gia đình: Khách hàng tổ chức mua hàng với số lượng lớn, dùng để kinh doanh, bán lại. Còn khách hàng hộ gia đình mua với số lượng nhỏ và sẽ là người tiêu dùng cuối cùng.
Phân đoạn thị trường khách hàng: Là cách chia thị trường tổng thể, đa dạng, phức tạp thành những đoạn, khúc thị trường khác nhau sao cho đảm bảo hai điều kiện sau: - Những khách hàng nằm trong cùng một đoạn thị trường có phản ứng tương đối đồng nhất với sản phẩm của nhà cung cấp. - Những đoạn thị trường khác nhau thì có phản ứng khác nhau đối với sản phẩm dịch vụ của nhà cung cấp. * Các tiêu thức dùng để phân đoạn thị trường Để phân đoạn thị trường, cần phải lựa chọn các tiêu thức để phân đoạn.Có nhiều tiêu thức để phân đoạn và tương ứng với nó thì có nhiều cách phân đoạn thị trường khác nhau. Việc lựa chọn tiêu thức nào để phân đoạn cần căn cứ vào loại sản 8 phẩm, dịch vụ và mục tiêu để phân đoạn.
Các tiêu thức để phân đoạn có thể phản ánh trong bảng sau: Bảng 1. Các tiêu thức phân đoạn thị trƣờng Cơ sở Tiêu thức phân đoạn phân đoạn Miền (Bắc, Trung, Nam); Vùng (thành thị, nông thôn…); Địa bàn Địa lý hành chính (các tỉnh, thành). Tuổi; Giới tính; Thu nhập; Nghề nghiệp; Trình độ văn hóa; Tình Dân số - trạng hôn nhân; Giai cấp xã hội; Dân tộc; Tôn giáo; Tình trạng xã hội việc làm; Chủng tộc… Thái độ (tích cực, trung gian, tiêu cực); Động cơ (rõ ràng, do dự, chưa); Cá tính (cởi mở, hung hăng…); Lối sống (truyền thống, Tâm lý hiện đại); Giá trị văn hóa (nhận thức được, không nhận thức được). Lý do mua; Lợi ích tìm kiếm (thuận tiện, tiết kiệm…); Tính trung Hành vi thành (luôn luôn, đôi khi, không); Số lượng và tỷ lệ tiêu dùng mua hàng (không, vừa phải, ít); Tình trạng người sử dụng (chưa dùng, đã sử dụng, đã dùng và hiện tại đang dùng).
* Lựa chọn thị trường mục tiêu: Là đoạn thị trường hấp dẫn nhất mà người bán (nhà cung cấp) cần tìm các chính sách để lôi kéo họ. Đây là đoạn thị trường đem lại lợi nhuận hấp dẫn nhất. Với mỗi một sản phẩm, dịch vụ có thể có một hoặc một số thị trường mục tiêu. Tuy nhiên, cần lưu ý với mỗi một thị trường mục tiêu, doanh nghiệp cần phải xây dựng được một chính sách marketing thích hợp.