CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING TRONG CHO VAY HỘ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ðỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY HỘ KINH DOANH 1. Khái niệm về Hộ kinh doanh Theo ñiều 49 Nghị ñịnh số 43/2010 ngày15/4/2010 của chính phủ về ñăng ký kinh doanh ñịnh nghĩa: Hộ kinh doanh do một cá nhân lŕ công dân Việt Nam hoặcmột nhóm người hoặc một hộ gia ñình làm chủ, chỉ ñược ñăng kýkinh doanh tại một ñịa ñiểm, sử dụng không quá mười lao ñộng,không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mìnhñối với hoạt ñộng kinh doanh. Hộ kinh doanh có các ñặc ñiểm sau: Hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân Hộ kinh doanh do một cá nhân thành lập có bản chất là cá nhân kinh doanh, do ñó không thể là pháp nhân.
Nó khác với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, bởi công ti trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một thực thể tách biệt với chủ sở hữu của nó. Trong khi ñó hộ kinh doanh không phải là một thực thể tách biệt với cá nhân thành lập nên nó. Mọi tài sản trong của hộ kinh doanh ñều là tài sản của cá nhân tạo lập nó. Cá nhân tạo lập hộ kinh doanh hưởng toàn bộ lợi nhuận (sau khi ñã thực hiện các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo qui ñịnh của pháp luật) và gánh chịu mọi nghĩa vụ.
Hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh qui mô nhỏ ðặc ñiểm này không xuất phát từ bản chất bên trong của hình thức kinh doanh này mà xuất phát từ các qui ñịnh của pháp luật Việt Nam căn cứ vào số lượng lao ñộng ñược sử dụng trong hộ kinh doanh. ðiều này gây tốn kém không thật cần thiết cho người kinh doanh, và có thể trái với ý chí và khả năng kinh doanh của họ Luan van 7 Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn ñối với các khoản nợ của hộ kinh doanh Hộ kinh doanh không phải là một thực thể ñộc lập, tách biệt với chủ nhân của nó. Nên về nguyên tắc chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn ñối với khoản nợ của hộ kinh doanh, có nghĩa là chủ nhân của hộ kinh doanh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình kể cả tài sản không ñưa vào kinh doanh. Khái niệm về cho vay Hộ kinh doanh Cho vay Hộ kinh doanh là một hình thức Ngân hàng tài trợ cho các khách hàng là hộ kinh doanh.
ðó là quan hệ kinh tế mà trong ñó Ngân hàng chuyển cho Hộ kinh doanh quyền sử dụng một khoản vốn với những ñiều kiện nhất ñịnh ñược thỏa thuận trong hợp ñồng nhắm phục vụ mục ñích khách hàng. Cho vay Hộ kinh doanh có các ñặc ñiểm sau: - Khoản vay của HKD thường nhỏ, song ưu ñiểm của nhóm khách hàng này là có nhu cầu thường xuyên và sử dụng nguồn vốn hiệu quả. - Mục ñích vay vốn của HKD khác với vay tiêu dùng nhưng khá giống với cho vay doanh nghiệp. - Chi phí cho vay tính trên ñơn vị dư nợ thường cao hơn so với cho vay doanh nghiệp.
- Hình thức cho vay hộ kinh doanh chứa ñựng nhiều rủi ro vì ñộ chuẩn xác và ñầy ñủ của thông tin thường kém. - Thông thường cho vay HKD thường ñược ñảm bảo bằng tài sản cố ñịnh. Tuy nhiên, do rủi ro lớn, lãi suất cho vay HKD thường cao hơn so với cho vay doanh nghiệp. - Trình ñộ sản xuất, trình ñộ văn hóa, khả năng áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh nói chung còn hạn chế.
Luan van 8 HKD có thói quen dung tiền mặt ñể thanh toán như doanh nghiệp nên NHTM khó phát triển các dịch vụ ñi kèm. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MARKETING DỊCH VỤ NGÂN HÀNG 1. Khái niệm về marketing dịch vụ ngân hàng a. Marketing Hoạt ñộng marketing ra ñời và tồn tại từ lúc loài người biết ñến hoạt ñộng trao ñổi.
Sẽ không có marketing nếu không tồn tại quá trình trao ñổi. Theo Philip Kotler (1988), “Marketing là những hoạt ñộng của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu thông qua quá trình trao ñổi” và “Nền tảng xã hội của marketing là thỏa mãn nhu cầu của con người”. Như vậy, Marketing ñặt con người vào những nhu cầu, mong muốn của họ ở vị trí trung tâm ñể mà ñáp ứng, thỏa mãn. Marketing ra ñời từ thực tiễn hoạt ñộng trao ñổi trong ñời sống và phát triển cùng với quá trình phát triển hoạt ñộng này của loài người.
Marketing là hoạt ñộng của mọi cá nhân, mọi tổ chức thực hiện nhằm ñạt ñược mục tiêu hay ñể thỏa mãn mong muốn của mình bất kể họ hành ñộng có vì mục tiêu kinh doanh hay không. Năm 1996, Philip Kotler và Gary Amtrong phát biểu rằng: “Marketing là một quá trình quản lý và là một quá trình xã hội nhờ ñó các cá nhân và tổ chức có ñược ñiều mà họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra và trao ñổi những sản phẩm có giá trị với người khác”.[11] Một số khái niệm khác, mang màu sắc kinh doanh hơn, “Marketing là một biện pháp quản lý, nó cho phép thực hiện mục tiêu của một doanh nghiệp nhờ sự nhận thức, sắp xếp công việc, hoạch ñịnh và kiểm soát các nguồn lực và những hoạt ñộng của doanh nghiệp với một sự quan tâm ñến việc thích nghi với môi trường xung quanh và thỏa mãn nhu cầu của các nhóm khách hàng, và như vậy, cho phép mang lại lợi ích”.[2] Theo hiệp hội Marketing Hoa kỳ (AMA 2014) ñịnh nghĩa “Marketing Luan van 9 là một chức năng thuộc về tổ chức và là một các quá trình sáng tạo, truyền thông, chuyển giao giá trị cho các khách hàng và quản trị các mối quan hệ khách hàng nhằm ñem lại lợi ích cho tổ chức và các bên quan tâm của tổ chức”. Như vậy, theo quan ñiểm marketing mới, hai vấn ñề quan trọng ñể ñạt ñược mục tiêu của doanh nghiệp là: - Sáng tạo, truyền thông và chuyển giao giá trị cho khách hàng. - Quản trị các mối quan hệ khách hàng.
Marketing dịch vụ Marketing dịch vụ là sự phát triển lý thuyết chung của marketing vào lĩnh vực dịch vụ có tính ñến những ñặc thù của dịch vụ và kinh doanh dịch vụ. Dịch vụ lại hết sức ña dạng.Mỗi ngành dịch vụ khác nhau lại có những ñặc ñiểm riêng. Dịch vụ là lĩnh vực chậm ứng dụng marketing so với các lĩnh vực sản xuất khác nên sự phát triển của nó về mặt lý luận cũng chưa ñược rõ ràng. Các ñặc thù của dịch vụ ñặt ra những khó khăn trong kinh doanh dịch vụ và marketing dịch vụ.
Do ñó, marketing dịch vụ có những ñiểm khác biệt so với marketing hàng hóa và chú trọng giải quyết các khó khăn trong kinh doanh dịch vụ bên cạnh các ứng dụng marketing thông thường nhằm giúp các doanh nghiệp thành công hơn. Vấn ñề cốt lõi của marketing dịch vụ là dịch vụ ( sự phục vụ). Chất lượng dịch vụ là nền tảng cho marketing dịch vụ.Không một doanh nghiệp nào lại kinh doanh thành công khi các dịch vụ của họ thiếu chất lượng. Chất lượng dịch vụ có ñược từ sự lãnh ñạo sáng tạo thông qua tạo dựng một văn hóa ñịnh hướng khách hàng trong doanh nghiệp, thiết kế hệ thống dịch vụ sử dụng có hiệu quả thông tin, công nghệ và nhiều yếu tố hình thành dần dần trong doanh nghiệp.
Luan van 10 Marketing dịch vụ là sự thích nghi lý thuyết hệ thống vào thị trường dịch vụ, bao gồm quá trình thu nhận, tìm hiểu, ñánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường phát triển bằnghệ thống các chính sách, các biện pháp tác ñộng vào toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất,cung ứng và tiêu dùng dịch vụ thông qua phân bố các nguồn lực của tổ chức. Marketing ñược duy trì trong sự năng ñộng qua lại giữa sản phẩm dịch vụ và nhu cầu của người tiêu dùng và những hoạt ñộng của ñối thủ cạnh tranh trên nền tảng cân bằng lợi ích giữa doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội. Marketing dịch vụ ngân hàng Marketing dịch vụ ngân hàng là loại Marketing dịch vụ tài chính. Việc nghiên cứu các ñặc ñiểm của dịch vụ sẽ là căn cứ ñể tổ chức tốt quá trình Marketing dịch vụ ngân hàng.
ðặc ñiểm dịch vụ ngân hàng sẽ ảnh hưởng khá lớn ñến cách thức sử dụng kỹ thuật Marketing sản phẩm dịch vụ ngân hàng có những ñặc ñiểm khác biệt, ñó là tính vô hình, tính không phân chia, không ổn ñịnh, không lưu trữ và khó xác ñịnh chất lượng. Những ñặc ñiểm này ñã ảnh hưởng không nhỏ ñến việc quản lý dịch vụ ñặc biệt là tổ chức hoạt ñộng Marketing của ngân hàng. Tính vô hình của sản phẩm dịch vụ ngân hàng ñã dẫn ñến việc khách hàng không nhìn thấy, không thể nắm giữ ñược, ñặc biệt là khó khăn ñánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ trước khi mua, trong quá trình mua và sau khi mua. ðể giảm bớt sự không chắc chắn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, khách hàng buộc phải tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng sản phẩm dịch vụ.ðó là ñịa ñiểm giao dịch, mức ñộ trang bị kỹ thuật công nghệ, trình ñộ cán bộ quản lý và nhân viên, ñặc biệt là các mối quan hệ cá nhân và uy tín, hình ảnh của ngân hàng.
Về phía ngân hàng, ñể củng cố niềm tin của khách hàng, họ ñã nâng Luan van 11 cao nghệ thuật sử dụng các kỹ thuật Marketing như tăng tính hữu hình của sản phẩm dịch vụ cung ứng thông qua việc ñưa ra hình ảnh, biểu tượng khi quảng cáo, nội dung quảng cáo không chỉ mô tả dịch vụ cung ứng mà còn tạo cho khách hàng ñặc biệt chú ý ñến những lợi ích mà sản phẩm dịch vụ ñem lại. ðồng thời Marketing phải cung cấp ñầy ñủ những thông tin cần thiết cho khách hàng về hiệu quả hoạt ñộng của ngân hàng, trình ñộ công nghệ và ñội ngũ nhân viên. ðặc biệt, các ngân hàng thường tạo bầu không khí làm việc tốt với ñiều kiện làm việc thuận tiện, tăng tinh thần trách nhiệm của nhân viên trong phục vụ khách hàng Hoạt ñộng cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn có một ñặc ñiểm có liên quan chặt chẽ ñến hoạt ñộng Marketing ñó là trách nhiệm liên ñới và dòng thông tin hai chiều giữa khách hàng và ngân hàng. Dòng thông tin hai chiều ñòi hỏi cả khách hàng và ngân hàng ñều phải cung cấp cho nhau những thông tin cần thiết, ñầy ñủ, chính xác ñể làm căn cứ quyết ñịnh các giao dịch và là cơ sở của lòng tin ñể duy trì mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng và ngân hàng.
Dịch vụ ngân hàng là loại hình Marketing hướng nội.