CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP. Khái niệm và vai trò phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Phân tích hoạt động kinh doanh. Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ cung cấp thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cho các nhà quản trị nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh, các nguồn tiềm năng cần khai thác và từ đó đề ra những phương án hiệu quả và khả thi để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Với các doanh nghiệp quy mô còn nhỏ lẻ, nhu cầu về thông tin chưa quá nhiều thì quá trình phân tích không cần quá phức tạp, có thể thực hiện ngay trong công tác hạch toán khi chủ doanh nghiệp yêu cầu. Tuy nhiên với các doanh nghiệp quy mô lớn hơn thì đòi hỏi việc phân tích ngoài những nguồn thứ cấp thu thập được trong quá trình hoạt động kinh doanh, sản xuất thì các số liệu báo cáo đó phải trải qua quá trình phân tích xử lí số liệu, đó cũng là một trong các lí do chủ doanh nghiệp có thể nắm bắt thông tin về doanh nghiệp của mình một cách khá rõ và chính xác từ đó giúp doanh nghiệp ngày càng thịnh vượng. Nói tóm lại, phân tích hoạt động kinh doanh là đi sâu vào nghiên cứu nội dung kết cấu và mối quan hệ biện chứng của các số liệu thu thập được về tình hình kinh doanh của doanh nghiệp bằng các phương pháp tính toán khoa học. Mục đích giúp các nhà quản trị thấy được điểm mạnh và những hạn chế của doanh nghiệp để rồi từ đó tìm cách khắc phục yếu điểm, phát huy điểm mạnh, tìm được những tiềm lực mới trên cơ sở đó giúp doanh nghiệp ngày càng làm ăn phát đạt.
Vai trò của phân tích hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc phát triển và định hướng doanh nghiệp, có thể coi là “la bàn” giúp doanh nghiệp tìm ra được nguyên nhân khách quan, chủ quan và đề ra biện pháp khai thác triệt để các tiềm năng thế mạnh cũng như khắc phục điểm còn chưa tốt. Kết quả phân tích kinh doanh của doanh nghiệp là điểm kết thúc trong một thời kì hoạt động nhất định của doanh nghiệp nhưng 5 là điểm bắt đầu, là căn cứ quan trọng để các nhà quản trị nhìn nhận đúng đắn về khả năng, điểm mạnh, hạn chế, điều kiện kinh doanh tùy thuộc mỗi thời kì rồi đề ra những bước đi, những chiến lược hiệu quả trong thời gian tới. Thông qua việc phân tích từng mặt trong hoạt động kinh doanh như: nhân sự, marketing, bán hàng,.
ban quản trị có thể biết được sự hoạt động của từng phòng ban, các chi nhánh trực thuộc để rồi có thể đưa ra các đánh giá, kiểm tra. Đó là mấu chốt để doanh nghiệp điều hành các bộ phận với nhau hoạt động một cách ngày ăn khớp và nhịp nhàng hơn. Hơn nữa phân tích kinh doanh cũng là một cách thức để phòng ngừa rủi ro trong kì kinh doanh tiếp theo. Phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ là một trong những cách để nhà quản trị đưa ra những chính sách điều chỉnh hoạt động donah nghiệp sao cho phù hợp với tình cảnh hiện tại mà còn là công cụ để tìm ra những tiềm năng chưa được khai thác.
Thông qua phân tích thì doanh nghiệp mới có thể tìm được nguồn gốc của nguyên nhân các vấn đề phát sinh trong kì kinh doanh được báo cáo để có giải pháp cải tiến hoạt động quản lý cũng như kiếm tìm những lợi ích mà mình chưa phát hiện ra. Sử dụng các tài liệu về kết quả phân tích tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, các nhà quản lý mới có nhận thức đúng đắn về điểm mạnh, hạn chế và đưa ra những dự đoán sơ bộ ban đầu và tìm cách khắc phục khó khăn, nâng cao hiệu quả hoạt động. Đó cũng là một cách để ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Thường xuyên phân tích, cập nhật số liệu báo cáo kết quả kinh doanh là cách để doanh nghiệp vận hành hành trơn tru, bảo đảm tránh những rủi ro không nên có, thúc đẩy mạnh sự hưng vượng công ty.
Đối với các nhà quản lý doanh nghiệp: phân tích tình hình kinh doanh đưa cho họ cái nhìn bao quát về hiệu quả của những chính sách họ làm trong kì tài chính trước rồi từ đó để họ đưa ra những giải pháp để phân bổ nguồn vốn sao cho hợp lý để đảm bảo hiệu quả kinh doanh ngày càng cao, hoàn thành tốt trách nhiệm mà cổ đông giao phó, khai thác được những tiềm năng to lớn mà có thể doanh nghiệp bỏ quên. 6 Đối với chủ sở hữu (cổ đông): ngoài đưa cho họ biết được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp mà họ đang góp vốn đầu tư thì họ cũng có thể biết được các nhà quản lý có đang vận hành doanh nghiệp hiệu quả hay không, sử dụng nguồn vốn của họ có tốt không và khả năng sinh lời (cổ tức) mà họ nhận có cao không. Đối với khách hàng: một công ty có tình hình kinh doanh tốt, vững mạnh thường tạo niềm tin lớn cho người mua hàng, họ tin rằng một công ty lớn phải kinh doanh buôn bán cẩn thận, chu đáo để không làm mất uy tín bản thân. Đối với các cơ quan chức năng quản lý Nhà nước: một số cơ quan như phòng thuế, các đơn vị thống kê.
thì việc phân tích kinh doanh đóng vai trò quan trọng để họ đánh giá một cách đúng đắn thực trạng tài chính của doanh nghiệp rồi từ đó đưa ra mức thuế họ phải chịu hoặc đối chiếu việc nộp thuế của doanh nghiệp đã đúng chưa, có trường hợp gian lận thuế không. Hơn nữa phân tích tài chính doanh nghiệp giúp các cơ quan thống kê biết được đóng góp của doanh nghiệp cho xã hội, đất nước là bao nhiêu trong tổng thể cả nền kinh tế quốc dân và là một trong những căn cứ để điều chỉnh chính sách sao cho phù hợp có lợi cho doanh nghiệp. Nội dung trong phân tích hoạt động kinh doanh. Trong phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ta thường nhắm tới hai nội dung chính: Thứ nhất, các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh như: số lượng hàng hóa đã bán, doanh thu bán hàng, lợi nhuận,.
Thứ hai, các điều kiện (yếu tố) có mối quan hệ ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh như: lao động, tiền vốn, vật tư,. Để nắm bắt rõ được những nội dung trên, ta nên lượng hóa chúng nhằm xác định được nhịp độ tăng giảm về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kì báo cáo, nhận thức rõ hơn về nguyên nhân, mối quan hệ của các điều kiện (yếu tố) tác động lên kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh. Việc phân tích để rồi đưa ra kết quả hoạt động kinh doanh phải chịu nhiều ảnh hưởng các nhân tố trong thời kì kinh doanh đó, tỷ dụ việc kinh doanh của tháng 1 sẽ khác 7 nhiều so với việc kinh doanh của tháng 2 là do nhiều yếu tố tác động lên, cả khách quan lẫn chủ quan, cũng như chịu tác động của cả môi trường vĩ mô và vi mô.
Một số nhân tố có thể kể đến dưới đây. Các yếu tố kinh tế. Đất nước ngày càng phát triển cũng sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh. Việc kinh doanh ít nhiều sẽ bị tác động bởi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, mức lạm phát, lãi suất ngân hàng.
Nền kinh tế tăng trưởng ổn định kèm theo đó là lạm phát được kiềm chế và không xảy ra khủng hoảng sẽ là một môi trường rất thuận lợi để doanh nghiệp phát triển, đóng góp chút công sức cho đất nước thịnh vượng. Đây là điều các doanh nghiệp đặc biệt doanh nghiệp lớn rất quan tâm. Yếu tố chính trị. Chính trị ổn định sẽ tạo ra một đất nước an toàn, từ đó các doanh nghiệp không lo sợ về an ninh, không lo sợ bị phá rối khi đang kinh doanh sản xuất.
Là một tiêu chuẩn quan trọng để các doanh nghiệp trong nước có thể thu hút vốn nước ngoài, thu hút đầu tư từ quốc tế từ đó mở rộng sản xuất kinh doanh không chỉ trong nước mà ra cả nước ngoài. Một chính phủ sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu cấp thiết và chính đáng của các doanh nghiệp, bãi bỏ những thủ tục rườm rà về hành chính, luôn đồng hành cùng doanh nghiệp sẽ là động lực thúc đẩy tăng trưởng trong doanh nghiệp, sẽ khiến đất nước là một mảnh đất màu mỡ để doanh nghiệp đến khai thác, đầu tư và phát triển. Yếu tố về công nghệ. Công nghệ ngày càng phát triển không ngừng, con người luôn hướng tới việc giảm sức lao động thay thế bằng máy móc, thiết bị công nghệ, điện tử.
Điều đó buộc các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới, sáng tạo trong việc áp dụng những thành tựu về khoa học - kĩ thuật vào công việc sản xuất, phân phối. Nếu không các sản phẩm của họ sẽ khó có một chỗ đứng vững chắc trên thị trường vì sản phẩm của họ sẽ trở nên lạc hậu, công nghệ của họ không tạo ra sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp, giá thành hợp lí như của các đối thủ cạnh tranh. Khách hàng. Một doanh nghiệp không thể kinh doanh hoặc lớn mạnh khi không có cầu thị trường về mặt hàng đó, hoặc có nhưng rất ít.
Khách hàng là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành bại của doanh nghiệp, không có sự tin cậy, tín nhiệm của khách hàng doanh nghiệp hầu như không thể duy trì hoạt động. Khách hàng là nguồn thu nhập chủ yếu của doanh nghiệp, là thước đo cho sự danh tiếng và chất lượng sản phẩm, dịch vụ doanh nghiệp đem lại. Đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của số đông khách hàng mang lại nguồn doanh thu, lợi nhuận lớn cho cơ sở kinh doanh, cho thấy doanh nghiệp đó có chỗ đứng nhất định trên thị trường. Để mở rộng thị trường kinh doanh, doanh nghiệp phải không ngừng tìm kiếm nguồn dữ liệu khách hàng tiềm năng đồng thời đưa ra những ưu đãi hấp dẫn để níu kéo khách hàng thân quen, đề ra những chiến lược tiếp thị và đàm phán để cho khách hàng thấy mình thật sự có lợi trong việc mua bán với doanh nghiệp , mình là người quan trọng trong mắt doanh nghiệp đó.
Đối thủ cạnh tranh. Từ lâu có câu “thương trường là chiến trường”, ở nơi đó các doanh nghiệp phải cạnh tranh khốc liệt với nhau để chiếm thị phần về lĩnh vực mình kinh doanh trên thị trường.