Chương 1: Cơ sở lý luận về khai thác than và hiệu quả khai thác than Chương 2: Thực trạng hiệu quả khai thác than tại Công ty CP than Cọc Sáu - VINACOMIN giai đoạn 2015 - 2019 Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả khai thác than tại Công ty CP than Coc Sáu - VINACOMIN. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE KHAI THÁC THAN VÀ HIỆU QUA KHAI THÁC THAN 1.1 Khái niệm, vai trò khai thác than và hiệu quả khai thác than 1.1 Khái niệm * Khái niệm về khai thác than Khai thác mỏ là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật liệu địa chất từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than. Các vật liệu được khai thác từ mỏ như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đá phiến dầu, đá muối và kali cacbonat. Bất kỳ vật liệu nào không phải từ trồng trọt hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy đều được khai thác từ mỏ.
Khai thác mỏ ở nghĩa rộng hơn bao gồm việc khai thác các nguồn tài nguyên không tai tạo (như dầu mỏ, khí thiên nhiên, hoặc thậm chí là nước). Khai thác mỏ than là một hình thức khai thác mỏ mà theo đó cần phải bóc lớp đất đá phủ trên loại khoáng sản là than cần khai thác. Thông thường người ta dùng hình thức khai thác dải để khai thác than đá và than nâu. Hình thức khai thác dải chỉ áp dụng nếu thân khoáng ở gần bề mặt.
Trong dạng khai thác này, lớp đất đá được loại bỏ theo dải (vạch) dé lộ các lớp mỏ, quặng ở đưới. Trong một hoạt động khai thác điển hình, dai khâu đầu tiên được loại bỏ và đặt qua một bên, kế đến dai đất thứ hai cũng được loại bỏ bên cạnh dải đất thứ 1. Quá trình này lặp lại cho đến khi khai thác được toàn bộ mỏ hoặc độ dày giữa các dai đất quá lớn dé không thé khai thác được nữa. * Khái niệm về hiệu quả khai thác than Hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn.) dé đạt được mục tiêu xác định.
Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thé tạo ra ở mức độ nao. Vì vậy, có thé mô tả hiệu quả kinh doanh băng các công thức chung nhất sau đây: lan ll 12 Trong đó: H: Hiệu quả K: Kết quả đạt được C: Hao phí nguồn lực cần thiết gan với kết quả đó. Hiệu quả khai thác theo khái niệm rộng là một phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động khai thác của doanh nghiệp. Như vậy, hiệu quả là một đại lượng so sánh: So sánh giữa đầu vào và đầu ra, so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết qua thu được.
Đứng trên góc độ xã hội, chi phí xem xét phải là chi phí xã hội, do có sự kết hợp của các yếu tố lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động theo một tương quan cả về lượng và chất trong quá trình khai thác dé tạo ra sản pham đủ tiêu chuẩn cho tiêu dùng.Tóm lại, hiệu qua khai thác phản ánh mặt chất lượng các hoạt động khai thác và sản xuất, trình độ nguôồn lực sản xuất trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào tốc độ biến động của từng nhân tố. Ngoài ra hiệu quả khai thác phải tính đến lợi ích xã hội, nguồn tài nguyên khoáng sản không có nguy cơ bị cạn kiệt và ảnh hưởng đến môi trường sông.Vì vậy hiệu quả khai thác than chính là khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm nguồn tài nguyên than trong nước đề sử dụng lâu dài [11], [12].2 Vai trò Ngành than đóng vai trò là ngành kinh tế trọng điểm cung cấp nhiên liệu hoạt động cho hầu hết các ngành khác, đặc biệt là điện, phân bón, giấy, xi-mang — những ngành sử dụng nhiều than nhất trong sản xuất, do đó nguồn cau về than trên thi trường hiện đang rất lớn. Khai thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên than nhằm đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh tế-xã hội trước mắt, lâu dài và đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường. Than là nguyên liệu chính cho nhiều ngành công nghiệp quan trọng.
Vì vậy việc cung cấp than đáp ứng đủ nhu cầu của các ngành công nghiệp là điều kiện quan trọng trong việc đảm bảo việc sản xuât của các ngành sử dụng nguyên liệu than. 13 Trong hoàn cảnh hiện nay, các ngành công nghiệp cũng tăng trưởng rất nhanh và nhu cầu về than cũng tăng nhanh tương ứng. Việc khai thác than cần được tính toán để cân bằng cung cầu. Quy hoạch ngành than sẽ tính toán nhu cầu và đưa ra quyết định khai thác ở đâu, bao nhiêu, tránh tình trạng khai thác than bừa bãi.
Một mặt sẽ giảm thiểu yếu tố tác động không tốt đến môi trường, mặt khác sẽ đảm bảo khai thác tiết kiệm, có hiệu quả. Điều này là vô cùng ý nghĩa, nó cho phép nền kinh tế quốc dân có thé sử dung tài nguyên than lâu dai ít nhất là trong giai đoạn tới cho tới khi chúng ta tìm ra một nguồn năng lượng khác thay thế. Than với công nghiệp điện Hiện nay Việt Nam có 17 nhà máy nhiệt điện cung cấp khoảng 30% sản lượng điện cho cả nước. Nguyên liệu than sử dụng cho nhiệt điện chiếm khoảng 30 - 50% tổng sản lượng ngành than.Những con số đã phần nào cho thấy vai trò của ngành than đối với ngành công nghiệp điện.
Đặc biệt là trong tình trạng thiếu điện tram trong nhu hién nay thi 30% tong sản lượng điện cả nước quả thực là một con số vô cùng ý nghĩa. Trong giai đoạn tới ngành than còn tính tới việc tăng cường cung cấp than cho nhiệt điện dé đảm bảo năng lượng cho phát triển kinh tế đất nước trong cả phương án tăng trưởng bình thường và tăng trưởng cao. Than với các ngành công nghiệp khác Than là nguyên liệu chính cho hầu hết các ngành công nghiệp: ngành sản xuất xi măng, ngành luyện kim, ngành công nghiệp phân bón hoá học, hoá chất, ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, ngành công nghiệp giấy, ngành công nghiệp dệt, da, may nhuộm. Đó đều là những ngành công nghiệp quan trọng có ý nghĩa sông còn đối với nền kinh tế quốc dân.
Ngành sản xuất xi măng, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp luyện kim đang phát triền rất mạnh mẽ và đây là những ngành đóng vai trò chính trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại cho nền kinh tế quốc dân. Công nghiệp phân bón hoá chất phát triển là điều kiện cần dé nâng cao năng suất và hiện đại hoá nền nông nghiệp vốn là ngành chủ đạo và thế mạnh của nước ta. Ngoài ra, Việt Nam là một nước còn kém phát triển so với thế gidi va rat đồi dao về lao động. Vi vậy công nghiệp dệt, da, may, nhuộm là những ngành hop nhât với 14 chúng ta dé tận dụng nhân công rẻ, khéo tay.
Hơn nữa đây còn là ngành xuất khẩu thế mạnh của Việt Nam mang về nhiều ngoại tệ và góp phần giải bài toán lao động hóc búa. Từ vai trò quan trọng của các ngành công nghiệp sử dụng nguyên liệu than nói trên chúng ta lại càng thấy được vai trò quan trọng của ngành than. Việc phát triển ngành than 6n định là điều kiện cần dé phát triển các ngành công nghiệp khác. Đồng thời trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày than cũng là một loại chất đốt được sử dụng tương đối phô biến.
Xuất khẩu than Hiện nay ngành than đã có một thị trường xuất khâu khá rộng lớn: Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc, Đức, Dai Loan, Malayxia, Indonexia, Cuba, các nước EU, Philipin, Nam Phi,. Ngành than luôn coi trọng va quan tâm xây dung quan hệ hop tác lâu dai với các công ty thương mai va các hộ tiêu dung của Trung Quốc, Nhật Bản, các nước ASEAN, các nước Châu Âu.để duy trì và tăng sản lượng than xuất khâu. Đây là nguồn thu ngoại tệ lớn của nước ta, đồng thời còn là nguồn thu chủ yếu đảm bảo hiệu quả kinh tế cho ngành than. Ngoài ra ngành than còn thu hút khá nhiều lao động.
Năm 2015, ngành đã giải quyết công ăn việc làm cho gần 100 nghìn người. Ngành than phát triển sẽ tạo ra nhiêu việc làm hơn và ôn định đời sông của công nhân viên ngành than [12]. Quy trình quản lý khai thác than Quy trình khoan Quy trình xúc Quy trình Quy trình xúc đất đá khoan nỗ mìn đất đá Cảng tiêu thụ Than Nguyên Quy trình xúc khai than Don vi thu mua xử lý chất thải Suối Hệ thống xử lý nước thải Hình 1.1: Sơ đồ quy trình quản lý khai thác than lộ thiên 1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả khai thác than Đối với doanh nghiệp mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận.
Lợi nhuận là một chỉ tiêu tai chính tổng hợp phản ánh hiệu quả của toan bộ quá trình đầu tư, sản xuất, tiêu thụ và những giải pháp kỹ thuật, quản lý kinh tế tại doanh nghiệp. Vì vậy, lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính mà bất kỳ một đối tượng nào muốn đặt quan hệ với doanh nghiệp cũng đều quan tâm. Tuy nhiên, để nhận thức đúng đắn về lợi nhuận thì không phải chỉ quan tâm đến tổng mức lợi nhuận mà cần phải đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với vốn, tai sản, nguồn lực kinh tế tài chính mà doanh nghiệp đã sử dụng dé tạo ra lợi nhuận trong từng phạm vi, trách nhiệm cu thể. Phân tích khả năng sinh lời thường dùng các chỉ tiêu sau 1.
Chỉ tiêu về kỹ thuật khai thác Khi tiến hành khai thác, các công trường, phân xưởng sản xuất phải tuân thủ theo đúng hộ chiếu đã được Giám đốc Công ty CP than Coc Sáu - VINACOMIN phê duyệt. Trong trường hợp có sự thay đổi so với hộ chiếu khai thác hoặc các yếu tố kỹ thuật phát sinh phải có sự đồng ý và lệnh sản xuất của Giám đốc Công ty CP than Coc Sáu - VINACOMIN mới duoc thi công Trong quá trình khai thác bốc xúc đất đá, than lộ thiên phải đảm bảo đầy đủ 16 các điều kiên kỹ thuật, an toàn về thoát nước, vận tải, cung cấp điện chiếu sáng và đường liên lạc, phòng chống cháy nô.