Tổng quan nghiên cứu

Xây dựng nông thôn mới là chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước nhằm thay đổi diện mạo kinh tế nông thôn, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Tuy nhiên, tại các địa bàn miền núi đặc thù, rào cản lớn nhất nằm ở bài toán tài chính. Huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng là một trong 62 huyện nghèo thuộc diện đặc biệt khó khăn của cả nước, với tổng diện tích tự nhiên 453,67 km2 bao gồm 18 xã và 1 thị trấn. Dù tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2018 đạt trên 11%, song thu nhập bình quân đầu người của huyện chỉ đạt 12,8 triệu đồng/người/năm, tương đương 58,2% mức bình quân tỉnh Cao Bằng (23,5 triệu đồng) và bằng 24% so với cả nước; tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo theo chuẩn mới vẫn chiếm tới 41,8%.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là làm thế nào để huy động đủ nguồn lực tài chính thực hiện 19 tiêu chí nông thôn mới trong bối cảnh nội lực địa phương hạn hẹp. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Đào Vĩnh Hưng, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Quốc Oánh tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam năm 2020, tập trung giải quyết mục tiêu: hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng huy động vốn giai đoạn 2017 - 2019, nhận diện các yếu tố tác động và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư cho huyện Hà Quảng. Đóng góp của đề tài thể hiện qua việc lượng hóa nhu cầu tài chính và xây dựng cơ chế phối hợp đa nguồn lực, tạo cơ sở thực tiễn cho chính quyền địa phương hoàn thành lộ trình xây dựng nông thôn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết phát triển kinh tế nông thôn và lý thuyết tích lũy vốn trong quản lý tài chính công. Cấu trúc nguồn vốn xây dựng nông thôn mới được xác định dựa trên 4 nguồn lực chính: vốn ngân sách nhà nước, vốn tự có của doanh nghiệp, vốn tín dụng ngân hàng và vốn tích lũy từ cộng đồng dân cư. Quá trình luân chuyển dòng vốn được phân loại theo 2 phương thức: phương thức gián tiếp qua hệ thống trung gian tài chính như ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng và phương thức trực tiếp thông qua trái phiếu, cổ phiếu hoặc huy động đóng góp trực tiếp từ xã hội.

Khung pháp lý của nghiên cứu căn cứ vào Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 800/QĐ-TTg; Quyết định số 1600/QĐ-TTg và Quyết định số 1980/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới với 19 tiêu chí cụ thể. Bên cạnh đó, cơ chế tài chính đặc thù cho các huyện nghèo được xây dựng trên cơ sở Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP và Nghị định số 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp nông thôn, tạo nền tảng lý luận vững chắc cho việc quản lý và phân bổ vốn đầu tư công.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp thu thập trong giai đoạn 2017 - 2019. Nguồn thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo của Chi cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hà Quảng. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn khảo sát với tổng cỡ mẫu là 105 người, bao gồm 25 cán bộ quản lý cấp huyện, xã và 80 đại diện hộ nông dân.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng được áp dụng dựa trên mức độ hoàn thành tiêu chí nông thôn mới nhằm đảm bảo tính đại diện cao. Địa bàn khảo sát chọn 3 xã tiêu biểu: xã Trường Hà đại diện nhóm đạt chuẩn 19/19 tiêu chí (thu nhập 29 triệu đồng/người/năm), xã Sóc Hà đại diện nhóm đạt từ 10-14 tiêu chí (hoàn thành 12 tiêu chí, thu nhập 25 triệu đồng/người/năm), và xã Vần Dính đại diện nhóm đạt từ 5-9 tiêu chí (mới đạt 5 tiêu chí, thu nhập 22 triệu đồng/người/năm). Phương pháp thống kê mô tả, phân tổ thống kê và phân tích so sánh tỷ lệ được lựa chọn nhằm bóc tách cấu trúc nguồn vốn, làm rõ sự chênh lệch sâu sắc giữa tiểu vùng thấp (7 xã/thị trấn) và tiểu vùng cao núi đá vôi (12 xã), từ đó đưa ra những luận cứ khoa học chính xác.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã chỉ ra 3 phát hiện trọng tâm về thực trạng huy động vốn tại huyện Hà Quảng:

Thứ nhất, cơ cấu nguồn vốn phụ thuộc tuyệt đối vào ngân sách nhà nước và các chương trình mục tiêu quốc gia lồng ghép. Tổng thu ngân sách địa phương năm 2018 đạt 615.169 triệu đồng, trong đó nguồn thu ngân sách huyện được giao là 524.369 triệu đồng và ngân sách xã là 74.516 triệu đồng, song nguồn thu nội địa chỉ chiếm khoảng 24.000 triệu đồng (dưới 4%). Vốn ngân sách trung ương và tỉnh chiếm tỷ trọng trên 80% tổng vốn đầu tư cho nông thôn mới.

Thứ hai, sự phân hóa nghiêm trọng về kết quả huy động vốn giữa các tiểu vùng. Tại xã vùng thấp Trường Hà, diện tích đất canh tác đạt 250 ha, nguồn vốn huy động đạt 100% kế hoạch đề án, hoàn thành 19/19 tiêu chí. Ngược lại, xã vùng cao Vần Dính có 325,03 ha đất nông nghiệp nhưng chủ yếu là núi đá trơ sỏi đá, nguồn vốn huy động chỉ đáp ứng khoảng 35-40% nhu cầu thực tế, dẫn đến việc mới chỉ đạt 5 tiêu chí.

Thứ ba, đóng góp từ người dân và doanh nghiệp còn rất hạn chế về tiền mặt. Do tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo lên tới 41,8%, đóng góp của người dân chủ yếu thể hiện qua ngày công lao động và hiến đất (chiếm khoảng 15-20% giá trị các công trình giao thông nông thôn tại xã điểm), trong khi đóng góp bằng tiền mặt trực tiếp chỉ đạt dưới 5% tổng mức đầu tư hạ tầng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của tình trạng trên bắt nguồn từ điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Toàn huyện có tới 12 xã thuộc tiểu vùng cao núi đá vôi, địa hình chia cắt mạnh, độ dốc lớn và thiếu nước sinh hoạt trầm trọng trong mùa khô (lượng mưa mùa khô chỉ chiếm 15% tổng lượng mưa cả năm 1.745 mm). Suất đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại đây cao gấp 1,5 đến 2 lần so với vùng đồng bằng. Cơ cấu kinh tế với nông nghiệp chiếm 42,3% nhưng hiệu số sử dụng đất chỉ đạt 1,3 lần, làm hạn chế khả năng tích lũy tài chính của người dân.

So sánh với các địa phương khác, kinh nghiệm tại huyện Đan Phượng (Hà Nội) cho thấy tổng vốn huy động đạt gần 2.000 tỷ đồng, trong đó người dân đóng góp hơn 200 tỷ đồng và doanh nghiệp gần 100 tỷ đồng nhờ công nghiệp hóa phát triển mạnh. Tại xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị), vốn nhân dân đóng góp đạt trên 19,8 tỷ đồng (chiếm 23% trong tổng số 83 tỷ đồng huy động). So sánh này khẳng định Hà Quảng không thể áp dụng rập khuôn cơ chế huy động tiền mặt mà phải dựa vào cơ chế hỗ trợ có mục tiêu từ nhà nước.

Để tối ưu hóa quản lý, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu phân bổ dòng vốn và bảng so sánh ma trận mức độ hoàn thành 19 tiêu chí theo từng nhóm xã, giúp nhận diện rõ các điểm nghẽn đầu tư hạ tầng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để bài toán thiếu hụt nguồn lực, nghiên cứu đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Tăng cường thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn ngân sách: Ủy ban nhân dân huyện Hà Quảng phối hợp cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Cao Bằng lồng ghép hiệu quả 100% các nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Chương trình 135 và Nghị quyết 30a, phấn đấu tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt trên 95% kế hoạch hàng năm trong giai đoạn 2021 - 2025.

  2. Hoàn thiện cơ chế tạo nguồn thu tại chỗ cho ngân sách xã: Hội đồng nhân dân tỉnh Cao Bằng và Ủy ban nhân dân huyện ban hành quy chế để lại tối thiểu 70% tiền thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất và cho thuê đất trên địa bàn cho ngân sách cấp xã nhằm bổ sung nguồn vốn đối ứng xây dựng hạ tầng nông thôn.

  3. Thu hút đầu tư từ doanh nghiệp và hợp tác xã: Ủy ban nhân dân huyện triển khai chính sách ưu đãi mặt bằng và hỗ trợ thủ tục hành chính, đặt mục tiêu thu hút tối thiểu 10-15 doanh nghiệp liên kết phát triển chuỗi giá trị cây thuốc lá nguyên liệu tại tiểu vùng thấp và chăn nuôi đại gia súc tại tiểu vùng cao, nâng tỷ trọng vốn ngoài ngân sách lên 15% vào năm 2025.

  4. Đổi mới phương thức huy động sự đóng góp của cộng đồng: Ban Quản lý nông thôn mới cấp xã đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Không huy động bắt buộc tiền mặt đối với hộ nghèo, tập trung vận động hiến đất và ngày công lao động để hoàn thành mục tiêu 100% đường liên thôn được bê tông hóa.

  5. Mở rộng tín dụng ưu đãi phát triển kinh tế hộ: Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Hà Quảng tăng trưởng dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn từ 10-12%/năm, ưu tiên hỗ trợ vốn vay ưu đãi cho 100% hộ cận nghèo có phương án sản xuất khả thi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cán bộ quản lý nhà nước và Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp huyện, xã: Nắm bắt phương pháp phân bổ vốn, kỹ năng lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia và giải quyết bài toán nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa bàn miền núi khó khăn.

  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển: Sử dụng làm tài liệu tham khảo khoa học về phương pháp tiếp cận điều tra thực địa phân tầng (105 mẫu) và mô hình hóa tài chính công ở khu vực biên giới.

  3. Các tổ chức tín dụng nông thôn và ngân hàng chính sách: Tham khảo dữ liệu thực tế về nhu cầu vốn vay sinh kế của 80 hộ nông dân để thiết kế các gói tín dụng vi mô phù hợp với chu kỳ sản xuất nông - lâm nghiệp.

  4. Hợp tác xã và doanh nghiệp đầu tư nông nghiệp: Nhận diện tiềm năng phát triển vùng nguyên liệu thuốc lá chất lượng cao và chuỗi cung ứng đặc sản bản địa để xây dựng kế hoạch liên kết sản xuất hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao công tác huy động vốn xây dựng nông thôn mới tại huyện Hà Quảng gặp nhiều khó khăn hơn các huyện đồng bằng?

Hà Quảng là 1 trong 62 huyện nghèo nhất cả nước với tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm 41,8%. Địa hình chia cắt mạnh với 12 xã núi đá vôi thiếu nước trầm trọng làm suất đầu tư công trình tăng gấp 1,5 đến 2 lần so với vùng đồng bằng, trong khi khả năng đóng góp tiền mặt của người dân rất thấp.

  1. Nguồn vốn nào giữ vai trò chủ lực trong xây dựng nông thôn mới tại địa bàn huyện Hà Quảng giai đoạn 2017-2019?

Vốn ngân sách nhà nước và các chương trình lồng ghép giữ vai trò cốt lõi, chiếm trên 80% tổng nguồn lực huy động. Năm 2018, tổng thu ngân sách địa phương đạt 615.169 triệu đồng, chủ yếu được điều tiết từ ngân sách cấp trên, đóng vai trò nền tảng để đầu tư trường học, trạm y tế và đường giao thông.

  1. Hình thức huy động nguồn lực từ cộng đồng dân cư nào mang lại hiệu quả cao nhất?

Huy động thông qua hiến đất làm đường và đóng góp ngày công lao động mang lại hiệu quả rõ nét nhất. Điển hình tại xã Trường Hà và Sóc Hà, việc người dân tự nguyện hiến đất và tham gia thi công đã giúp tiết kiệm 15-20% tổng chi phí xây lắp các tuyến đường giao thông liên thôn.

  1. Làm thế nào để giải quyết áp lực nợ đọng xây dựng cơ bản trong chương trình nông thôn mới?

Địa phương cần tuân thủ nghiêm ngặt Luật Đầu tư công, chấm dứt việc phê duyệt dự án vượt quá khả năng cân đối ngân sách. Đồng thời, cần áp dụng cơ chế giao trực tiếp cho cộng đồng dân cư tự thi công các công trình hạ tầng quy mô nhỏ dưới 3 tỷ đồng để tiết kiệm chi phí quản lý.

  1. Doanh nghiệp và hợp tác xã có thể tham gia vào những lĩnh vực nào để thúc đẩy huy động vốn?

Doanh nghiệp nên tập trung đầu tư vào các chuỗi giá trị có lợi thế như vùng sản xuất nguyên liệu thuốc lá lá chất lượng cao tại tiểu vùng thấp, trồng ngô hàng hóa và chế biến lâm sản tại tiểu vùng cao, kết hợp tận dụng các chính sách ưu đãi đất đai và hỗ trợ thuế của nhà nước.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về huy động vốn tài chính công, bóc tách cấu trúc 4 nguồn vốn và 2 phương thức huy động trong xây dựng nông thôn mới tại huyện miền núi biên giới.
  • Phân tích thực chứng tại 3 xã đại diện (Trường Hà, Sóc Hà, Vần Dính) với 105 mẫu khảo sát, chỉ rõ sự phụ thuộc trên 80% vào ngân sách nhà nước và rào cản từ tỷ lệ nghèo 41,8%.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đột phá, trọng tâm là cơ chế để lại 70% tiền sử dụng đất cho cấp xã và mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng ưu đãi từ 10-12%/năm.
  • Định hình lộ trình thực hiện theo các mốc giai đoạn 2021 - 2025, ưu tiên tháo gỡ điểm nghẽn thiếu nước và giao thông cho 12 xã tiểu vùng cao núi đá vôi.
  • Đề tài khẳng định việc kết hợp hài hòa giữa nguồn lực ngân sách nhà nước và nội lực cộng đồng là chìa khóa then chốt đưa huyện nghèo Hà Quảng hoàn thành các mục tiêu quốc gia về nông thôn mới bền vững.