Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm, vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế 1. Khái niệm NHTM Thuật ngữ ngân hàng xuất hiện từ rất lâu đời, bắt nguồn từ yêu cầu giữ hộ tiền của những nhà tư bản phương Tây.
Cho đến nay, ngân hàng ngày càng phát triển lớn mạnh với rất nhiều loại hình khác nhau cùng những chức năng riêng biệt để phục vụ cho sự phát triển không ngừng của nền kinh tế. Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng. Thông qua các di tích tìm được, nhiều tài liệu cho thấy hoạt động ngân hàng đã ra đời từ 3 - 4 ngàn năm trước công nguyên. Đó là những người giữ hộ tiền, đổi tiền thường ngồi ở bàn hoặc ở một cửa hiệu nhỏ trong trung tâm thương mại, giúp các nhà du lịch đến thành phố đổi ngoại tệ lấy bản tệ và chiết khấu thương phiếu giúp các nhà buôn có vốn kinh doanh.
Xã hội càng phát triển, hoạt động của ngân hàng càng trở nên đa dạng hơn về loại hình. Hơn thế, các hoạt động của NHTM ngày nay rất đa dạng, các thao tác trong từng nghiệp vụ ngân hàng lại phức tạp và luôn biến động theo sự thay đổi chung của nền kinh tế. Theo luật tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16/06/2010 định nghĩa: “ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã, và tổ chức tín dụng 5 là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng.
Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiên tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Như vậy có thể thấy NHTM là nơi trung chuyển nguồn vốn cho toàn bộ nền kinh tế, và luôn đứng trước những rủi ro rất lớn không những ảnh hưởng đến hoạt động của Ngân hàng nói riêng mà còn ảnh hưởng tới hoạt động nền kinh tế nói chung. Theo đó, NHTM luôn chịu sự giám sát chặt chẽ hơn bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào khác trong nền kinh tế.
Do vậy, có thể nói bản chất của NHTM được thể hiện qua các điểm sau: - Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế. - Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ Ngân hàng. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế Thứ nhất: Là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế Vốn được tạo ra từ quá trình tích lũy, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và Nhà nước trong nền kinh tế. Vì vậy, muốn có nhiều vốn phải tăng thu nhập quốc dân và mức độ tiêu dùng hợp lý.
Để tăng thu nhập quốc dẫn tức là phải mở rộng quy mô chiều rộng và chiều sâu của sản xuất và lưu thông hàng hóa, đẩy mạnh sự phát triển của các ngành hàng trong nền kinh tế và muốn làm được điều đó thì nhất thiết phải có vốn. Mặt khác, khi nền kinh tế càng phát triển sẽ càng tạo ra nhiều nguồn vốn, điều đó sẽ có tác động tích cực đến hoạt động ngân hàng. NHTM là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh. NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, các nhân, mọi thành phần kinh tế như: vốn 6 tạm thời được giải phóng ra từ quá trình sản xuất, vốn từ nguồn tiết kiệm của các cá nhân trong xã hội.
Bằng vốn huy động được trong nền kinh tế và đáp ứng các nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình sản xuất. Nhờ có hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại và đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế. Thứ hai: Là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thỏa mãn nhu cầu thị trường trên mọi phương diện được thể hiện như: không thỏa mãn nhu cầu về phương diện giá cả, khối lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa mà còn đòi hỏi đáp ứng cả trên phương diện thời gian, địa điểm. Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán.
mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp… Những hoạt động này đòi hỏi một khối lượng lớn vốn đầu tư, nhiều khi vượt quá khả năng vốn tự có của doanh nghiệp. Do đó, để giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin vay vốn nhằm thỏa mãn nhu cầu đầu tư của mình. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là chiếc cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường vốn. Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung ứng cho doanh nghiêp đã đóng vai trò quan trọng trong việc nâng vao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu thị trường và từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc.
7 Thứ ba: Là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, NHTM hoạt động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình sẽ thực sự là một công cụ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Bằng hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các NHTM trong hệ thống, các NHTM đã góp phần mở rộng khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông. Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả và thực thi vai trò điều khiển gián tiếp vĩ mô: “Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”. Thứ 4: Là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế Trong nền kinh tế thị trường khi mà các mối quan hệ hàng hóa tiền tệ ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách.
Việc phát triển kinh tế của mỗi quốc gia luôn gắn với sự phát triển của kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó. Vì vậy, nền tài chính của mỗi nước cũng phải hòa nhập với nền tài chính quốc tế và ngân hàng thương mại cùng các hoạt động kinh doanh của mình đã đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hòa nhập này. Với các nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác, ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng mở rộng. Thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các ngân hàng thương mại nước ngoài, hệ thống ngân hàng thương mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền kinh tế trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM Nghiệp vụ cơ bản của NHTM gồm: huy động vốn, sử dụng vốn và dịch 8 vụ trung gian. Các nghiệp vụ cơ bản trên thể hiện đầy đủ các chức năng và hoạt động của NHTM.Nghiệp vụ huy động vốn Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản và quan trọng của bất kể một loại hình ngân hàng nào, nó đáp ứng nhu cầu về vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Vốn của NHTM được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện của nền kinh tế xã hội, pháp luật của Nhà nước và khả năng của mỗi ngân hàng. Nghiệp vụ huy động vốn của NHTM được thực hiện thông qua 2 con đường đó là: vốn chủ sở hữu và huy động nợ.
Vốn chủ sở hữu là vốn do các chủ sở hữu ngân hàng góp ban đầu và vốn bổ sung. Tuy nhiên, tỷ lệ vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ lệ không lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Để đáp ứng nhu cầu về vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh, các ngân hàng phải huy động vốn bằng cách huy động nợ dưới các hình thức như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài;. Nghiệp vụ sử dụng vốn Thông qua việc huy động vốn đã hình thành nên nguồn vốn của ngân hàng.
Hoạt động huy động vốn đóng vai trò quan trọng thì hoạt động sử dụng vốn lại quyết định nhiều đến khả năng kinh doanh của ngân hàng. Các NHTM sử dụng nguồn vốn huy động được để thực hiện các nghiệp vụ của mình nhằm thu lại lợi nhuận cho ngân hàng, trang trải chi phí huy động vốn và các chi phí khác thông qua các hoạt động chính như đầu tư và cho vay. Theo Luật các TCTD năm 2010, nghiệp vụ sử dụng vốn thể hiện qua việc cấp tín dụng dưới các hình thức: cho vay; chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá khác; bảo lãnh ngân hàng; phát hành thẻ 9 tín dụng; bao thanh toán trong nước; bao thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng được phép thực hiện thanh toán quốc tế; và các hình thức cấp tín dụng khác sau khi được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận. Nghiệp vụ trung gian khác NHTM là một trung gian tài chính lớn nhất trong số các trung gian tài chính.