Chương 1 đồng thời đã cung cấp khái quát về bố cục của luận văn. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG 2. Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản 2. Khái niệm về thanh khoản Ủy ban Basel về giám sát hoạt động ngân hàng (2000) định nghĩa về một ngân hàng có khả năng thanh khoản là ngân hàng đó có khả năng đáp ứng được tất cả các yêu cầu về sử dụng vốn có sẵn để phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại bất kỳ thời điểm nào như: hoạt động chi trả tiền gửi cho khách hàng, hoạt động cho vay, hoạt động thanh toán hay các giao dịch vốn,.
Basel (2008) đồng thời cũng đưa ra thêm nhận định rằng thanh khoản là khả năng của ngân hàng trong việc tài trợ cho việc gia tăng tài sản và khả năng trong việc ngân hàng có thể đáp ứng được các nghĩa vụ nợ đến hạn mà không gây ra tổn thất ở mức không chấp nhận được. Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), xét về khía cạnh tài sản, thanh khoản là khả năng tài sản chuyển hóa thành tiền hay tiền chuyển hóa thành tài sản; còn xét về khía cạnh ngân hàng thì thanh khoản được định nghĩa là khả năng đáp ứng kịp thời, đầy đủ các nghĩa vụ tài chính phát sinh của ngân hàng. Theo Duttweiler (2009), thanh khoản có hai khía cạnh cần chú ý đó là thanh khoản tự nhiên và thanh khoản nhân tạo. Các dòng lưu chuyển từ tài sản hoặc từ nợ và có thời gian đáo hạn cụ thể được gọi là “thanh khoản tự nhiên”.
Còn “thanh khoản nhân tạo” được hiểu là khả năng chuyển đổi thành tiền từ tài sản vào trước ngày đáo hạn của tài sản đó. Trương Quang Thông (2010) cho rằng thanh khoản được định nghĩa là khả năng của ngân hàng tiếp cận với tài sản và nguồn vốn ở mức chi phí hợp lý nhằm phục vụ cho các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Theo Alshatti (2015), thanh khoản của ngân hàng là khả năng ngân hàng đáp ứng đầy đủ các nghĩa vụ tài chính khi đến hạn. Nguyên nhân chính của rủi ro thanh khoản là do ngân hàng xảy ra tình trạng thiếu thanh khoản tiếp diễn trong thời gian dài.
Từ những khái niệm trên, có thể hiểu thanh khoản của ngân hàng là nói về khả năng của ngân hàng trong việc có thể thanh toán ngay cho các nghĩa vụ tài chính phát 10 sinh ở một chi phí thấp nhất. Thanh khoản thể hiện cho khả năng của ngân hàng có thể thực hiện được đến mức tối đa tất cả các nghĩa vụ thanh toán đến hạn (Duttweiler, 2009). Khi ngân hàng không thực hiện được các nghĩa vụ thanh toán thì hậu quả là dẫn tới tình trạng ngân hàng thiếu thanh khoản. Theo Duttweiler (2009), tình trạng thiếu thanh khoản của ngân hàng kéo dài sẽ gây ra rủi ro thanh khoản cho ngân hàng đó.
Khái niệm về rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản xảy ra khi đến một thời điểm nào đó mà ngân hàng bị mất khả năng thanh toán hoặc khi mà ngân hàng phải huy động thêm nguồn vốn từ các nguồn có chi phí cao để thanh toán (Đặng Văn Dân, 2015). Theo Duttweiler (2009) thì rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng không thể thực hiện được nghĩa vụ thanh toán hoặc phải trả mức chi phí cao để huy động vốn nhằm đáp ứng cho nhu cầu thanh toán của ngân hàng. Điều này làm ảnh hưởng đến tình hình hoạt động và tình hình tài chính của tổ chức tín dụng. Theo Decker (2000), rủi ro thanh khoản có hai hình thức gồm: rủi ro tài trợ, rủi ro thị trường.
Theo đó, rủi ro thanh khoản tài trợ là rủi ro xảy ra khi ngân hàng không thể bán được tài sản hoặc không nhận được nguồn nào tài trợ cho việc thực hiện các nghĩa vụ nợ đến hạn. Rủi ro thanh khoản thị trường là rủi ro xảy ra khi thị trường gián đoạn, nghĩa là thị trường không có thông tin đầy đủ và buộc ngân hàng phải giảm giá thị trường để bù đắp rủi ro. Các ngân hàng sẽ phải đối mặt với vấn đề thanh khoản khi đầu tư vào tài sản kém thanh khoản có kỳ hạn dài hoặc nắm giữ các khoản nợ có tính thanh khoản có thể mua trong thời gian ngắn (Distinguin và cộng sự, 2013). Nếu các ngân hàng không có chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản kịp thời thì sẽ phải đối mặt với cú sốc thanh khoản, bán tháo tài sản thanh khoản và giảm cho vay (Brunnermeier, 2009).
Do đó, việc đo lường, nhận diện được các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro thanh khoản và đưa ra các cảnh báo về khả năng xảy ra rủi ro thanh khoản là vô cùng cần thiết đối với hệ thống ngân hàng. Nguyên nhân của rủi ro thanh khoản Nguyên nhân dẫn tới rủi ro thanh khoản có thể xuất phát từ nhiều phương diện, tuy nhiên có hai nguyên nhân chính cần đặc biệt chú trọng đó là nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan (Nguyễn Hải Long, 2017). 11 Nguyên nhân chủ quan là do: sự bất cân xứng trong kỳ hạn của tài sản có và nợ phải trả; mất cân xứng về cơ cấu tài sản; xác định khách hàng mục tiêu không hợp lý; chính sách cho vay ưu đãi mà chưa lường hết rủi ro; năng lực tài chính của mỗi ngân hàng; hệ quả của những rủi ro khác (Nguyễn Văn Tiến, 2010; Trần Huy Hoàng, 2011). Theo Bonfim và cộng sự (2012), để đạt mục tiêu về lợi nhuận, ngân hàng thường dùng nguồn vốn từ tiền gửi có kỳ hạn ngắn để cấp tín dụng trung dài hạn.
Điều đó đã tạo ra sự bất cân xứng về kỳ hạn và là nguyên nhân dẫn đến rủi ro thanh khoản cho các ngân hàng. Ngoài ra, việc gia tăng đầu tư vào danh mục có mức độ rủi ro cao để có tỷ suất sinh lời cao cũng là nguyên nhân dẫn tới rủi ro thanh khoản xảy ra. Nguyên nhân khách quan là do: tài sản tài chính thường nhạy cảm với những thay đổi của lãi suất, từ đó làm tác động đến tâm lý khách hàng; chính sách tiền tệ và các biến động bất thường của nền kinh tế; chu kỳ kinh doanh của khách hàng; tin đồn thất thiệt (Trần Huy Hoàng, 2011; Nguyễn Hải Long, 2017). Khi xuất hiện bất cứ thông tin gì liên quan đến vấn đề thanh khoản của ngân hàng thì sẽ ngay lập tức tác động đến tâm lý của người dân, hậu quả là người dân ồ ạt đi rút tiền gửi đe dọa đến trạng thái thanh khoản của ngân hàng.
Ngoài ra, theo chu kỳ kinh doanh thì vào thời điểm cuối năm nhu cầu vốn của các doanh nghiệp sẽ tăng cao để đẩy mạnh sản xuất và quyết toán, thanh toán công nợ cuối năm. Tuy nhiên, thời điểm này các ngân hàng thương mại lại thường hạn chế cấp tín dụng bởi các ràng buộc về tỷ lệ tăng trưởng tín dụng do ngân hàng nhà nước đề ra. Chính vì lý do đó mà các doanh nghiệp phải sử dụng vốn tự có của mình để trang trải cho các khoản công nợ, vì thế mà khả năng trả nợ ngân hàng có xu hướng bị kéo dài. Theo Brunnermeier (2009), nếu rủi ro thanh khoản không được các nhà quản lý ngân hàng lưu tâm kiểm soát thì ngân hàng sẽ có nguy cơ đối diện với cú sốc thanh khoản, phải bán tháo tài sản thanh khoản và thực hiện giảm cho vay.
Lý thuyết cho vay thương mại và thanh khoản Lý thuyết cho vay thương mại và thanh khoản (Commercial Loan Theory and Liquidity) là lý thuyết về việc quản lý tài sản, trong đó có nêu lên vấn đề về thanh khoản do Smith (1776) khởi xướng. Lý thuyết cho vay thương mại là lý thuyết về quản 12 lý tài sản nhấn mạnh vào tính thanh khoản. Theo đó, các ngân hàng cần duy trì tính thanh khoản cần thiết để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi của khách hàng (Smith, 1776). Theo Wilson và cộng sự (2010), khi ngân hàng muốn duy trì thanh khoản thì cần nắm giữ ngân quỹ và nắm giữ các khoản cho vay thương mại.
Ở điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển thì nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng. Như vậy, cho vay thương mại là khoản tài trợ ngắn hạn nên đảm bảo được sự phù hợp về mặt kỳ hạn, giúp tạo thanh khoản cho ngân hàng. Mặc dù vậy, lý thuyết này chưa quan tâm tới tính thanh khoản của ngân hàng từ các khoản cho vay phi thương mại. Theo Trương Thị Thanh Nga (2018), lý thuyết cho vay thương mại phân tích về tính thanh khoản của những khoản cho vay thương mại nhưng lại không đề cập đến tính thanh khoản của nguồn vốn cho vay phi thương mại, do đó không bảo đảm được tính thanh khoản cho ngân hàng.
Thực tế, nhiều khoản tiền gửi được tiếp tục tái tục nên nguồn này có thể được ngân hàng tận dụng vào việc cho khách hàng vay trung dài hạn. Vì vậy, lý thuyết này hàm ý rằng các ngân hàng luôn có nguy cơ gặp rủi ro cao, đặc biệt là rủi ro thanh khoản. Việc gia tăng các khoản cho vay sẽ làm rủi ro thanh khoản càng gia tăng. Lý thuyết khả năng thay đổi Một trong những người đầu tiên khởi xướng nền tảng của Lý thuyết khả năng thay đổi (The Shiftability Theory) là Moulton (1918).
Moulton đã khẳng định rằng “thanh khoản là khả năng thay đổi”. Nội dung chính của lý thuyết này cho rằng các ngân hàng có thể phòng ngừa rủi ro thanh khoản bằng việc nắm giữ tỷ trọng lớn tài sản có tính thanh khoản cao trong cơ cấu tài sản. Lý thuyết khả năng thay đổi chỉ ra rằng các khoản cho vay và đầu tư là nguồn gốc của vấn đề thanh khoản. Vì vậy, để đảm bảo khả năng thanh khoản cho ngân hàng thương mại thì các yếu tố quan trọng là khả năng tạo ra lợi nhuận, khả năng tích lũy vốn và khả năng chuyển đổi tài sản của ngân hàng chứ không phải là cho vay thương mại.
Khi nghiên cứu về nguồn gốc của rủi ro thanh khoản dựa trên lý thuyết khả năng thay đổi, Toby (2006) cho rằng tính thanh khoản của ngân hàng được dựa vào khả năng chuyển đổi các tài sản ngắn hạn ở mức giá dự đoán trước. Các tài sản mà ngân hàng nắm giữ có thể dễ dàng chuyển nhượng trên thị trường và vì thế mà ngân hàng sẽ đáp ứng được cầu thanh khoản của thị trường nếu ngân hàng có sẵn tài sản để bán. 13 Lý thuyết này chứng minh vấn đề chính giúp đảm bảo khả năng thanh khoản của ngân hàng đó là khả năng tạo ra thu nhập của chính ngân hàng và khả năng chuyển đổi tài sản (Trần Thị Thanh Nga, 2018).