chương 1, tác giả luận văn tiến hành hệ thống lý thyết về văn hóa tổ chức, bao gdm các khái niệm về văn hóa, văn hóa tô chức, văn hóa doanh nghiệp; vai trò va đặc tính cơ bản của văn hóa tô chức; cũng như tìm hiểu về câu trúc và các thành phần của văn hóa tô chức làm cơ sở cho việc nghiên cứu, phân tích thực trạng văn hóa tổ chức tại COSCO ở chương 2. Khái niệm về văn hóa trong tổ chức 1. Văn hóa Văn hóa là một khái niệm có lịch sử lâu dài và thăng trầm, được hình thành và phát triên trong môi quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Văn hóa là sản phâm của loài người, song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người và duy trì trật tự xã hội bên vững.
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng, liên quan đến mọi mặt trong đời sống vật chât và tinh thần của con người. Do đó, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa lại phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Từ năm 1952, hai nha nhân loại học người Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nỗi tiếng thế giới. Văn hóa là một chỉnh thể phức hợp bao gồm toàn bộ những tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, những khả năng và tập quán khác nhau mà con người cần hướng đến với tư cách là một thành viên xã hội (Tylor, 1871).
Đây là một định nghĩa khá tông hợp về văn hóa vào cuối thế kỷ XIX. Thông qua góc nhìn giản dị về những vấn đề xã hội nhân sinh thực tế, cụ thể trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, vào những năm 40 của thế kỉ trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc song, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hăng ngày về ăn mặc ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhăm thích ứng với những nhu câu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh, 1995).
Định nghĩa chỉ ra chủ thể sáng tạo văn hóa chính là con người, mục đích sáng tạo văn hóa là đê phục vụ con người. Van hoá bao gồm các quá trình kế thừa về kỹ thuật, tư tưởng, tập quán và giá trị (Manilowski, 1944). Khái niệm văn hóa ở đây nhắn mạnh đến quá trình kế thừa truyền thống, xã hội. Văn hóa là các nguyên tắc và những giá trị được thông báo công khai một cách rõ ràng mà theo đó cả nhóm đều cam kết tuân thủ (Deal và Kennedy, 2000).
Khái niệm văn hóa ở đây mang tính cộng đồng, là những chuẩn mực, giá trị, quy tắc được xã hội thừa nhận. Năm 2002, UNESCO đã dưa ra một định nghĩa về văn hóa được nhiều quốc gia thừa nhận và ứng dụng: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hỗn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Định nghĩa văn hoá của UNESCO được xác định theo hướng tổng hợp, xem văn hóa là do con người sáng tạo ra, bao gôm cả những van dé thuộc về tinh thần lẫn vật chất, bất kể tốt xấu, phù hợp hay không phù hợp. Như vậy, mặc dù văn hóa là một khái niệm có nội hàm hết sức phong phú và nhiều đặc trưng phức tạp, ta vẫn có thể thấy bốn đặc trưng cơ bản nhất của văn hóa là tính nhân sinh, tính giá trị, tính hệ thông và tính lịch sử - đây là những đặc trưng cần và đủ để phân biệt văn hóa với những khái niệm có liên quan.
Trên cơ sở đó, tác giả nhận thấy có thể định nghĩa văn hóa như sau: Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà con người tạo ra trong quá trình tương tác với nhau, có tính kế thừa lịch sử, là những quy tắc, giá trị, quan điểm chung được xã hội thừa nhận. Văn hóa tổ chức Khái niệm "văn hóa tổ chức" (Organization Culture) đã trở thành một phần quan trọng trong nghiên cứu về quản trị những thập niên gần đây. Các nhà nghiên cứu đã không đi đến thỏa thuận về một định nghĩa duy nhất cho khái niệm văn hóa tổ chức. Thực tế, Kroeber và Kluckhohn (1952) đã xác định được có không dưới 164 định nghĩa văn hóa tổ chức khác nhau của các nhà nghiên cứu ở các lĩnh vực khác nhau như nhân chủng học, xã hội học, tâm lý học.
Tuy nhiên hầu hết các nhà lý thuyết (Jaques, 1952; Ouchi, 1981; Peters va Waterman, 1982; Hofstede, 1991; Deal va Kennedy, 2000; Schein, 2004) đều xem văn hoá như một hệ thống các giá trị, niềm tin, thái độ, nhận thức, biểu tượng, mô hình truyền thông và hành vi. Dưới đây sẽ trình bày một số định nghĩa tiêu biểu đã được công bồ và sử dụng phô biến: Văn hóa tổ chức là tập hợp các thói quen, cách nghĩ truyền thống, giá trị, chiến lược, ý tưởng và cách thức làm việc trong tổ chức được chia sẻ và thực hiện bởi tất cả các thành viên trong tổ chức (Elliott Jaques, 1952). Văn hóa của một tổ chức là những chuẩn mực, 21a tri, niềm tin, cách hành động đặc trưng khi một nhóm người phối hợp với nhau làm một việc gì đó. Tính đặc thù của một tổ chức có nguồn gốc sâu xa từ lịch sử phát triển của tổ chức, từ những nhân tố ảnh hưởng đến việc hình thành phong cách của tổ chức như những tiền lệ quyết định quan trọng, phong cách, quan điểm của cựu lãnh đạo.
Chúng được thể hiện thông qua những phong tục, tập quán và quan niệm mà mỗi thành viên đều coi trọng, cũng như thông qua những quyết định chiến lược của một tổ chức (Eldridge va Crombie, 1972). Văn hóa tô chức là sự đồng thuận về nhận thức của tất cả thành viên trong nhóm. Những ý nghĩa này được mọi thành viên của một nhóm ngầm thừa nhận, nhưng rất rõ ràng và phân biệt với các nhóm khác. Những ý nghĩa này sẽ được tiếp tục truyền cho những người mới (Louis, 1980).
Văn hóa tổ chức là một tập hợp các biểu tượng, nghi lễ và huyền thoại cho phép truyện đạt đên toàn thê nhân viên các giá trị cơ bản và niêm tin của tô chức (Ouchi, 1981). Văn hoá tô chức là một tập hợp các giả định cơ bản và giá tri cua tô chức (Peters & Waterman, 1982). Văn hóa thể hiện trình độ nhận thức đặc biệt của một tô chức — có nghĩa là chúng chứa đựng những phẩm chất đặc trưng có thể dùng để phân biệt với các tổ chức khác ở một phương diện nào đó (Gold, 1982). Văn hóa là một hệ thống lập trình trong tiềm thức con người để phân định các thành viên trong một nhóm với nhóm khac (Hofstede, 1991).
Văn hóa tô chức là hệ thông các giá trị nêm tin được hiệu và chia sẻ bởi các thành viên trong một tô chức (Recardo và Jolly, 1997). Văn hóa tô chức là một hệ thống ý nghĩa chung, hàm giữ bởi các thành viên của tổ chức, qua đó có thể phân biệt được tổ chức này với tổ chức khác (Robbin, 2000). Văn hoá tô chức là tập hợp của các giá trị, quy tặc, niêm tin, thai độ và giả định chi phôi cách thức mà mọi người trong tô chức hành xử và mọi việc được thực hién (Deal va Kennedy, 2000). Văn hóa tô chức là một dạng của những giả định cơ bản, được sáng tạo, khám phá, phát triển và tích lũy thông qua giải quyết các vấn đề mà tô chức gặp phải trong quá trình thích nghi với môi trường bên ngoài và tích hợp với môi trường bên trong.
Các giả định cơ bản này đã được thừa nhận qua thời gian và được truyền đạt cho những thành viên mới như là một cách thức đúng đắn để nhận thức, suy nghĩ và định hướng giải quyết mọi vẫn đề (Schein, 2004). Theo Needle (2004) văn hóa tổ chức là tập hợp đại diện cho các giá trị, niềm tin và nguyên tắc từ các thành viên trong một tô chức và chịu sự ảnh hưởng của những yếu tố lịch sử, thị trường, công nghệ, chiến lược, kiểu nhân viên, phong cách quan tri cua tô chức và văn hóa quôc 81a. Như vậy, theo tác giả, có thê hiệu văn hóa tô chức là toàn bộ các yêu tô văn hóa được tô chức chọn lọc, xây dựng và phát triển trong suốt quá trình hoạt động của một tô chức, trở thành những chuẩn mực hành vi, hệ thống giá trị, niềm tin chi phối các thành viên trong tô chức, kiểm soát cách thức các thành viên tương tác lẫn nhau và với các tổ chức bên ngoài, đồng thời là đặc trưng để phân biệt tổ chức này với tô chức khác. Văn hóa doanh nghiệp Thuật ngữ “văn hóa tổ chức” xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí của Mỹ vào những năm đầu thập niên 1960.
Thuật ngữ tương đương “văn hóa doanh nghiệp” xuất hiện khoảng thập niên 1970, và càng trở nên phố biến sau khi tác phẩm Văn hóa doanh nghiệp của Terrence Deal và Atlan Kennedy được xuất bản tại Mỹ năm 1982. Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống những ý tưởng chung được xây dựng bởi thành viên của một doanh nghiệp nhăm phân biệt doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác. Văn hóa doanh nghiệp liên quan đến cách nhân viên nhận thức được đặc tính của văn hóa doanh nghiệp, chứ không phải cách họ thích nó hay không — có nghĩa là đây là một thuật ngữ mang tính chất mô tả. Bảy đặc điểm cơ bản cho thấy cốt lõi của văn hóa doanh nghiệp: e Đối mới và mạo hiểm: Mức độ nhân viên được khuyến khích phải đổi mới và mạo hiểm.
e Chú ý tới từng tiểu tiết: Mức độ nhân viên được kỳ vọng chính xác trong phân tích và chú ý tới từng chỉ tiết. e Dinh hướng kết quả: Mức độ mà nhà quản lý tập trung vào kết quả hơn là kỹ thuật và quy trình áp dụng để đạt được kết quả đó. e Dinh huong con người: Mức độ mà các quyết định quản lý được ưa chuộng trong nô lực cân nhắc về hiệu quả công việc đối với người lao động trong doanh nghiệp.