Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản trị nguồn nhân lực; - Chương 2: Thực trạng công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần VUIGROUP; - Chương 3: Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty Cổ phần VUIGROUP. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực 1. Khái niệm nhân lực Nhân lực là nguồn lực xuất phát từ trong chính bản thân của từng cá nhân con người.
Nhân lực bao gồm thể lực và trí lực. Nguồn lực này ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của con người. Khi nguồn lực này đủ lớn, nó sẽ đáp ứng các điều kiện để con người có thể tham gia vào lao động, sản xuất. Chính vì điều đó, nhân lực tạo ra sự khác biệt so với các nguồn lực khác trong doanh nghiệp (nguồn vốn, công nghệ kỹ thuật, máy móc…).
Khái niệm của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh. Là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội và là một yếu tố của sự phát triển kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực theo Liên Hợp quốc trong Các chỉ số phát triển thế giới, là tất cả những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển cùa mỗi cá nhân và đất nước. Theo Tổ chức Lao động quốc tế, Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.
Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động. (Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động năm 2012) Còn theo ngân hàng thế giới, Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm trí lực, thể lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. 4 Vậy, nguồn nhân lực cũng được hiểu theo hai nghĩa: - Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường.
- Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế-xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất, là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực được huy động vào quá trình lao động. Dưới góc độ kinh tế phát triển: Nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng. Như vậy, theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn lao động, đó là: những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổi lao động quy định nhưng đang đi học… Tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị: Nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Ở góc độ doanh nghiệp, nguồn nhân lực là tất cả mọi cá nhân tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Bao gồm các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.
Nguồn nhân lực được coi là một nguồn vốn, một nguồn tài nguyên quý báu của doanh nghiệp. Bùi Văn Nhơn: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”. Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành nên doanh nghiệp và quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Vì vậy, nhà quản lý cần phải quan tâm, bồi dưỡng nguồn nhân lực để đảm bảo nguồn nhân lực đủ mạnh cả về chất lượng và số lượng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh.
Vai trò của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực chính tạo nên sự phát triển của doanh nghiệp: Nguồn nhân lực được các nhà chiến lược kinh doanh xem là nguồn lực quan trọng nhất trong tất cả các nguồn lực của doanh nghiệp vì các nhân viên có thể nâng cao trình độ nghiệp vụ từ đó làm tăng quy mô cạnh tranh của doanh nghiệp theo thời gian, còn các nguồn lực khác thì không thể. Đem lại khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp: Xã hội đang dần chuyển sang nền kinh tế tri thức nên nguồn vốn, yếu tố nguyên vật liệu và máy móc không còn quá quan trọng nữa. Nguồn vốn trí tuệ là tài sản vô hình, sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định chiến lược, làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Làm tăng sự hài lòng của khách hàng đối với tổ chức: Sự gắn kết của một khách hàng đối với một tổ chức phụ thuộc vào mối quan hệ của khách hàng đó đối với nhân viên.
Nhân viên được huấn luyện tốt sẽ khuyến khích khách hàng mua sản 6 phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, giúp họ trở thành những khách hàng trung thành cho doanh nghiệp. Đây là đặc điểm chỉ có nguồn nhân lực mới thực hiện được. Nguồn nhân lực là vô tận: Khác với các nguồn lực khác, nguồn nhân lực là vô tận nếu các nhà quản trị nhân sự biết khai thác nguồn lực này đúng mức sẽ đem lại hiệu quả cao cho việc tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Để có thể tăng trưởng một cách bền vững, bên cạnh các yếu tố về phát triển hạ tầng, áp dụng công nghệ thì nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp.
Vũ Bá Thể: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng từng con người trong lao động đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn phát triển”. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là việc xây dựng và thực hiện một số các hoạt động nhằm tăng chất lượng nguồn nhân lực hiện có của tổ chức. Biểu hiện tăng lên về thể lực, trí lực và tâm lực của mỗi cá nhân trong tổ chức. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tạo ra nguồn nhân lực có khả năng tốt hơn trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội đang trên đà hội nhập quốc tế cũng như tạo ra nguồn nhân lực tự tin hơn trong quá trình làm việc điều này giúp tạo ra của cải vật chất cho bản thân, cho tổ chức và tạo ra khả năng cạnh tranh bền vững nhất.
Vai trò nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của kinh tế-xã hội nói chung và của doanh nghiệp nói riêng. Nguồn nhân lực được xem là năng lực nội sinh chi phối các các nguồn lực khác. So với nguồn lực 7 khác, nguồn nhân lực với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám có ưu thế nổi bật là không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý. Trong môi trường kinh doanh ngày càng khắc nghiệt, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất mà còn giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh với đối thủ.
Chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng sẽ làm cho công tác quản lý lao động dễ dàng và hiệu quả hơn. Việc quản lý lao động cũng là nguyên nhân dẫn đến thành công hay thất bại trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc quản lý dễ dàng sẽ giúp công việc diễn ra một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất trong môi trường đầy biến động.
Tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Trí lực: Tiêu chí đầu tiên để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực là trí lực. Trí lực là năng lực trí tuệ, khả năng nhận thức và tư duy mang tính sáng tạo thích ứng với xã hội của con người. Trí lực ở đây có thể nói đến là trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, kĩ năng nghề nghiệp. Trí lực là yếu tố quan trọng, chiếm vị trí trung tâm chỉ đạo hành vi của con người trong mọi hoạt động, là yếu tố quyết định chất lượng nguồn nhân lực nói riêng và sự phát triển nguồn lực con người nói chung.
Trí lực của người lao động thường được đánh giá theo các tiêu chí như: -Trình độ văn hóa: Trình độ văn hóa chính là sự hiểu biết của một người với kiến thức phổ thông. Đối với nguồn nhân lực, trình độ văn hóa thể hiện qua số lượng hoặc tỷ lệ người lao động biết chữ hay số lượng hoặc tỷ lệ người lao động học qua các bậc học: Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Trung cấp chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học và trên Đại học. Đây được coi như là nền tảng kiến thức đầu tiên để người lao động có khả năng nắm bắt được những kiến thức 8 chuyên môn, cũng như là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện đào tạo, phục vụ cho hoạt động nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của mình.