Chương I). Khái niệm này vẫn thể hiện quan điểm Nhà nước đề cao sở hữu nhà nước đối với các DNNN (Nhà nước có vốn góp chi phối 51% trở lên vẫn là DNNN).Về cơ bản, Luật DNNN năm 2003 đã quy định 3 mô hình quản lý của các DNNN bao gồm: (1) Công ty nhà nước, (2) Công ty TNHH nhà nước, và công ty cổ phần nhà nước; trong đó, 2 mô hình sau là gần tương đồng với mô hình 10 quản lý của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tư nhân được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 1995. Tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XI, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Doanh nghiệp 2005, số: 60/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005 hướng đến việc hợp nhất các quy định tản mát của Nhà nước quy định về nhiều thành phần doanh nghiệp khác nhau gồm cả doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tư nhân và DNNN, tạo động lực lớn cho Việt Nam trong việc thể chế hóa các nguyên tắc cơ bản của Tổ chức Thương mại thế giới WTO như các nguyên tắc bảo đảm đầu tư, kinh doanh, đối xử quốc gia, công khai, minh bạch.tạo ra sân chơi bình đẳng và môi trường pháp lý trong sạch, lành mạnh. Theo quy định Luật Doanh nghiệp 2005, doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối được tổ chức dưới hình thức công ti Nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn.Doanh nghiêp nhà nước là doanh nghiệp một chủ trong trường hợp nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ (tức sở hữu 100%).
Doanh nghiệp nhà nước nhiều chủ sở hữu trong trường hợp có cổ phần, vốn góp chi phối có tỉ lệ trên 50% và dưới 100%. Kể từ 1-7-2015, theo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi), luật số: 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014 thì: “Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ” (Khoản 8 Điều 4). Như vậy, các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ mới được xem là doanh nghiệp nhà nước, thay vì chỉ 51% như quy định Luật Doanh nghiệp 2005. Sự thay đổi này được xem là sự cải cách về quan điểm để dẫn đến thay đổi về vốn và quản trị.
Với hướng tiếp cận “cởi trói” cho doanh nghiệp và tuân theo các cơ chế quản lý của nền kinh tế thị trường là hạn chế sự can thiệp của nhà nước, Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định chỉ những doanh nghiệp nào do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ thì mới được coi là DNNN, tức là hạn chế số lượng DNNN và mở rộng thành phần doanh nghiệp không bị ràng buộc bởi “cơ chế Nhà nước”. Với quy định này các công ty lớn hoạt động trong lĩnh vực then chốt như dầu khí, vận tải hàng không, hay các ngân hàng có sở hữu của Nhà nước thấp hơn 100% vốn điều lệ đều không còn là DNNN. Các doanh nghiệp này 11 ngoài việc tháo bỏ cái mác DNNN, cải tổ cơ chế quản lý điều hành, quản trị rủi ro thì hoàn toàn có thể cạnh tranh bình đẳng với các loại hình doanh nghiệp khác mà không có sự khác biệt nào. Và theo Quyết định 58/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí phân loại doanh nghiệp có vốn nhà nước và Danh mục doanh nghiệp nhà nước thực hiện sắp xếp giai đoạn 2016-2020, những doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, hoạt động trong các ngành, lĩnh vực: Đo đạc bản đồ phục vụ quốc phòng, an ninh; Sản xuất, kinh doanh vật liệu nổ công nghiệp; Truyền tải, điều độ hệ thống điện quốc gia và quản lý lưới điện phân phối; thủy điện đa mục tiêu, điện hạt nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh; Quản lý hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị do Nhà nước đầu tư; điều hành giao thông vận tải đường sắt quốc gia.
Ngoài ra, các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực dịch vụ không lưu, dịch vụ thông báo tin tức hàng không, dịch vụ tìm kiếm, cứu nạn; Bảo đảm hàng hải (không bao gồm nạo vét, duy tu luồng hàng hải công cộng); Bưu chính công ích; Kinh doanh sổ xố; Xuất bản (không bao gồm lĩnh vực in và phát hành xuất bản phẩm); In, đúc tiền, sản xuất vàng miếng và các vật phẩm lưu niệm bằng vàng; Tín dụng chính sách phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng cũng thuộc nhóm các doanh nghiệp nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Nhưng theo Luật số: 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020, “Luật Doanh Nghiệp” thì doanh nghiệp nhà nước được quy định như sau: “1. Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, bao gồm: a) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; b) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, trừ doanh nghiệp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này. Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này bao gồm: 12 a) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; b) Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này bao gồm: a) Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; b) Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Có thế thấy rằng việc quy định về doanh nghiệp Nhà nước đã trãi qua rất nhiều thay đổi từ luật doanh nghiệp năm 1995 đến nay. Từ doanh nghiệp được xem là doanh nghiệp Nhà nước khi nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc cổ phần, rồi đến doanh nghiệp được xem là doanh nghiệp Nhà nước khi phải nắm 100% vốn điều lệ và hiện nay một doanh nghiệp được xem là doanh nghiệp Nhà nước khi Nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ hoặc cổ phần. Việc thay đổi này hoàn toàn phù hợp với tình hình kinh tế nước ta hiện nay.
Việc nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển và hội nhập sâu rộng vào nền kinh thế thị trường toàn cầu, đặc biệt là Nhà nước ta ngày càng tham gia nhiều vào các hiệp định thương mại tự do, tiêu biểu như hiệp định “Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương”.1 chương 17 rong hiệp định có quy định rất rõ về khái niệm doanh nghiệp Nhà nước như sau: “Doanh nghiệp sở hữu nhà nước là một doanh nghiệp chủ yếu tham gia vào các hoạt động thương mại trong đó một Bên: (a) trực tiếp sở hữu hơn 50% vốn cổ phần; (b) kiểm soát, thông qua những ích lợi sở hữu, hơn 50% quyền bỏ phiếu; hoặc 13 (c) có quyền bổ nhiệm đa số thành viên của ban giám đốc hoặc bất kỳ cơ quan quản lý tương đương khác.” Việc thay đổi làm cho các văn bản pháp luật về quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp của nước ta phù hợp với các quy định trong các hiệp định thương mại tự do mà nước ta ký kết tham gia”. Từ quan niệm trên có thể xem xét một số đặc điểm của doanh nghiệp nhà nước như sau: - Chủ đầu tư: Là Nhà nước. - Sở hữu vốn: Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc cổ phần. - Hình thức tồn tại: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bao gồm: công ty mẹ của các tập đoàn kinh tế; công ty mẹ của tổng công ty nhà nước; công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ - công ty con; công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên độc lập; công ty cổ phần. - Mô hình quản lý: Thứ nhất, doanh nghiệp nhà nước có hội đồng quản trị: hội đồng quản trị là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước, chịu trách nhiệm trước nhà nước. Thứ hai, doanh nghiệp nhà nước không có hội đồng quản trị: giám đốc doanh nghiệp được nhà nước bổ nhiệm hoặc tuê để điều hành hoạt động của doanh nghiệp. - Trách nhiệm tài sản: Doanh nghiệp nhà nước chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của doanh nghiệp.
Nhà nước chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi tài sản góp vốn vào doanh nghiệp. - Mục đích hoạt động: Thực hiện mục đích kinh doanh hoặc hoạt động công ích. Ứng với hai mục đích trên là có hai loại DNNN khác nhau. DNNN hoạt động kinh doanh là doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận.
DNNN hoạt động công ích là doanh nghiệp hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Vai trò của các DNNN trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta: 14 Một là, DNNN đóng vai trò quan trọng là công cụ hữu hiệu điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo nên sức mạnh kinh tế quốc gia. Trong nền kinh tế nhiều thành phần, các DNNN nắm giữ các lĩnh vực, ngành nghề quan trọng, giữ vai trò trụ cột của nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế theo định hướng của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, DNNN còn là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của kinh tế quốc dân.
Đồng thời DNNN còn là trụ cột kinh tế, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, nâng cao mức sống cho nhân dân, góp phần giải quyết vấn đề an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh. Hai là, DNNN thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội mà Nhà nước giao.