CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1.1 Một số vấn đề cơ bản về cho thuê tài chính 1.1 Khái niệm về cho thuê tài chính Cho thuê tài chính được đánh giá là giai đoạn phát triển cao nhất của tín dụng thuê mua và là kênh dẫn vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp muốn đầu tư vào tư liệu sản xuất, đặc biệt thích hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trên thế giới hiện nay, quy mô hoạt động cho thuê tài chính đang phát triển khá nhanh và tăng trưởng vượt bậc qua các năm, nhất là tại các nước đang phát triển. Về lý thuyết cũng như thực tế, hiện nay, có rất nhiều quan điểm về CTTC. Tùy theo từng góc độ nghiên cứu, hoặc theo quy định của pháp luật mỗi quốc gia khác nhau thì có khái niệm khác nhau.
Khái niệm theo chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IAS 17): “Cho thuê tài chính là chuyển giao thực chất toàn bộ rủi ro và ích lợi liên quan tới sở hữu tài sản. Quyền sở hữu về sau có thể được chuyển giao hoặc không”. Khái niệm theo chuẩn mực Kế toán Việt Nam (Chuẩn mực số 06) được ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 về việc ban hành và công bố sáu chuẩn mực kế toán Việt Nam (đợt 2): “Thuê tài chính là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê. Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê”.
Khái niệm cho thuê tài chính ở Việt Nam: Theo Nghị định số 16/2011/NĐ- CP ngày 02/05/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Công ty cho thuê tài chính: “Cho thuê tài chính là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản 11 GV Hướng dẫn: TS. Trần Việt Hà HV: Nguyễn Mạnh Hải – QTKD4 2011B thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận.
Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng”. Sự ra đời của Nghị định số 16/2011/NĐ-CP ngày 02/05/2001 đã chính thức đánh dấu một bước đi quan trọng trong sự phát triển của CTTC tại Việt Nam. Kể từ đây, CTTC chính thức được coi là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn và trở thành một nghiệp vụ tín dụng mới do các công ty CTTC thực hiện.
Theo Nghị định 65/2005/NĐ-CP ban hành ngày 19/5/2005 quy định về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 16/2001/NĐ-CP cũng đưa ra định nghĩa về giao dịch cho thuê tài chính: “Một giao dịch cho thuê tài chính phải thỏa mãn một trong những điều kiện sau đây: - Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được chuyển quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được tiếp tục thuê theo sự thỏa thuận của hai bên. - Khi kết thúc thời hạn cho thuê theo hợp đồng, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại. - Thời hạn cho thuê một loại tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê. - Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.” Như vậy, có thể thấy điểm khác biệt lớn nhất giữa quan điểm về cho thuê tài chính ở Việt Nam và trên thế giới đó là về đối tượng cho thuê, không áp dụng cho thuê với bất động sản mà chỉ cho vay tài chính với máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác… 12 GV Hướng dẫn: TS.
Trần Việt Hà HV: Nguyễn Mạnh Hải – QTKD4 2011B 1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của cho thuê tài chính Cho thuê tài sản là một công cụ tài chính đã được sáng tạo ra từ rất sớm trong lịch sử văn minh nhân loại (cách đây khoảng 4000 năm) và được sử dụng phổ biến để đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt. Trong một giao dịch cho thuê, bên thuê chuyển quyền sử dụng tài sản cho bên thuê trong một thời gian nhất định, còn bên thuê phải trả tiền thuê. Người ta gọi phương thức này là cho thuê truyền thống. Trong suốt thời hạn hợp đồng, quyền sở hữu tài sản không chuyển cho bên thuê, nhưng bên thuê phải chịu trách nhiệm giữ gìn tài sản đó như của chính mình.
Hình thức cho thuê tài chính xuất hiện trước tiên ở Hoa Kỳ vào năm 1952, do Công ty tư nhân tên là United States Leasing Corporation do Henry Shoeld sáng lập ra đời đã đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của loại hình dịch vụ tài chính này; nhằm đáp ứng những nhu cầu vốn trung và dài hạn, nghiệp vụ tín dụng thuê tài chính đã được sáng tạo ra trước tiên ở Hoa Kỳ. Hàng loạt các công ty cho thuê tài chính khác cũng đã nối gót ra đời như General Electric Credit Corp, Boothe Leasing Corp,…chính là những nguyên mẫu cho các công ty cho thuê tài chính ngày nay. Sau đó nghiệp vụ thuê tài chính phát triển sang Châu Âu và đã được ghi vào luật thuê mua của Pháp. Cũng năm 1960, hợp đồng thuê mua đầu tiên đã được thảo ra ở Anh, có giá trị khoảng 18.
Từ khi xuất hiện hình thức cho thuê tài chính, các hoạt động giao dịch thuê mua đã có những bước phát triển hết sức mạnh mẽ cả về chủng loại tài sản, thiết bị và khối lượng giao dịch. Trong hoạt động thuê tài chính ngày nay. Cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, dịch vụ cho thuê tài chính ngày càng lan rộng tầm ảnh hưởng ra toàn thế giới. Cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỷ XX, cho thuê tài chính bắt đầu phát triển ở Châu Âu và đến đầu thập niên 70 đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của loại hình này tại thị trường Châu Á, Nam Mỹ và Châu Phi.
Đến thập niên 80, dịch vụ cho thuê tài chính đã được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới. Hiện nay, hoạt động CTTC được sử dụng tại hơn 80 nước và chủ yếu ở các nước đang phát triển với khối lượng dư nợ cho thuê trên 500 tỷ USD, tương đương 12,5% đầu tư tư nhân của thế giới. Hiện 13 GV Hướng dẫn: TS. Trần Việt Hà HV: Nguyễn Mạnh Hải – QTKD4 2011B nay tại Mỹ, thuê mua là một hình thức tài trợ được sử dụng rộng rãi nhất với số dư nợ cho thuê tăng tương đương khoảng 140 tỷ USD mỗi năm; đáp ứng 1/3 nhu cầu đầu tư thiết bị của cả nước Mỹ.
Ở Việt Nam, hoạt động thuê mua bắt đầu xuất hiện từ năm 1996 và cho đến nay đã có 13 Công ty được cấp giấy phép và hoạt động. Trong đó, các công ty cho thuê tài chính trực thuộc các Ngân hàng gồm có Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam. Các công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài có thể kể đến Công ty cho thuê tài chính ANZ-VTRAC; Cty cho thuê tài chính Kexim và Công ty cho thuê tài chính Quốc tế Chailease. Ngoài ra còn có các công ty dưới các hình thức khác như Công ty cho thuê tài chính Quốc tế Việt Nam (liên doanh); Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho thuê tài chính Ngân hàng Á Châu; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên cho thuê tài chính Công nghiệp tàu thủy.
Tại thời điểm cuối năm 2012, tổng dư nợ cho thuê tài chính của các công ty cho thuê tài chính hơn 15540 tỷ đồng. Mặc dù hoạt động thuê mua đã xuất hiện ở Việt Nam 15 năm nhưng vẫn chưa có những văn bản luật cũng như chính sách đồng bộ nhằm khuyến khích loại hình này thực sự phát huy hết hiệu quả. Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã biết đến loại hình dịch vụ này và đã bắt đầu sử dụng thuê mua như một công cụ tài chính phục vụ nhu cầu phát triển kinh doanh của mình. Đặc biệt trong vòng năm năm trở lại đây khi nền kinh tế Việt Nam thực sự chuyển mình và trở thành điểm đến hấp dẫn của nhiều nhà đầu tư thì thuê mua đã có cơ hội để thể hiện hết những ưu điểm của mình.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã là động cơ thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, hiện đại hóa các dây chuyền và công nghệ sản xuất sẽ làm cho thị trường cho thuê tài chính của Việt Nam phát triển nhanh trong một vài năm tới đây. Trong một thời gian dài trước đây, các doanh nghiệp đã hưởng lợi từ việc cạnh tranh giữa các Ngân hàng Thương mại dẫn đến tình trạng nới lỏng cơ 14 GV Hướng dẫn: TS. Trần Việt Hà HV: Nguyễn Mạnh Hải – QTKD4 2011B chế xét duyệt tín dụng và giảm tỷ lệ lợi nhuận biên tế của một số ngân hàng nhằm thu hút khách hàng và gia tăng số dư nợ vay. Trong tương lai khi các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới áp lực tuân thủ các quy định trong quản lý ngân hàng theo thông lệ quốc tế sẽ phải cẩn trọng hơn trong các quyết định cấp tín dụng của mình.
Vì vậy, khả năng tiếp cận nguồn vốn vay truyền thống từ các Ngân hàng Thương mại sẽ phải tuân thủ theo các quy định thẩm định khắt khe hơn.