Pháp Luật Về Hoạt Động Cho Thuê Tài Chính Ở Việt Nam Hiện Nay

Tài liệu nghiên cứu Pháp luật về hoạt động cho thuê tài chính ở việt nam hiện nay, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về luật học.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

94
34
2

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH

1.1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH

1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động cho thuê tài chính

1.1.2. Khái niệm hoạt động cho thuê tài chính

1.1.3. Các hình thức cho thuê tài chính. Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH

1.2.1. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động cho thuê tài chính

1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về hoạt động cho thuê tài chính

1.2.3. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam

1.3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ TRONG VIỆC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH

1.3.1. Kinh nghiệm của Pháp

1.3.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc

1.3.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc

1.3.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

1.4. TÓM TẮT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH

2.1. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1.1. Chủ thể tham gia hoạt động cho thuê tài chính

2.1.2. Tài sản cho thuê tài chính, các hình thức cho thuê tài chính

2.1.3. Điều kiện cho thuê tài chính

2.1.4. Quyền và nghĩa vụ của bên cho thuê và bên thuê tài chính

2.1.5. Các yếu tố khác trong hoạt động cho thuê tài chính

2.1.6. Hợp đồng cho thuê tài chính

2.1.7. Quản lý nhà nước trong hoạt động cho thuê tài chính

2.2. THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.2.1. Chủ thể tham gia hoạt động cho thuê tài chính

2.2.2. Tài sản cho thuê tài chính, hình thức cho thuê tài chính

2.2.3. Điều kiện hoạt động cho thuê tài chính

2.2.4. Quyền và nghĩa vụ của các bên

2.2.5. Các yếu tố khác trong hoạt động cho thuê tài chính

2.2.6. Hợp đồng cho thuê tài chính

2.3. ĐÁNH GIÁ VỀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.3.1. Những thành tựu đã đạt được

2.3.2. Những hạn chế, bất cập còn tồn đọng

2.4. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH

3.2. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH

3.3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.4. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

2. TÀI LIỆU TIẾNG ANH

Tóm tắt

I. Cho Thuê Tài Chính Tổng Quan Pháp Lý Lợi Ích 50 60

Hoạt động cho thuê tài chính (CTTC) đã xuất hiện từ lâu đời, ban đầu chỉ là các giao dịch cho thuê tài sản đơn giản. Theo thời gian, CTTC phát triển thành một công cụ tài chính quan trọng. Các nền văn minh cổ đại như Sumerians, Hy Lạp, La Mã đã sử dụng cho thuê nông cụ, đất đai. Đến thời Trung cổ, cho thuê mở rộng sang công nghiệp, quân sự. Tại Việt Nam, CTTC được xem là kênh huy động vốn trung và dài hạn. Nó mang lại nhiều ưu điểm như khả năng tài trợ lớn, linh hoạt, và giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, CTTC ở Việt Nam chưa phát triển tương xứng với tiềm năng. Do đó, cần có một khung pháp lý hoàn thiện để thúc đẩy hoạt động này.

1.1. Lịch sử hình thành phát triển thuê tài chính leasing

Hoạt động cho thuê (leasing) có lịch sử lâu đời, bắt nguồn từ việc cho thuê tài sản thuần túy từ hơn 2000 năm trước Công nguyên. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy các hợp đồng cho thuê tư liệu sản xuất nông nghiệp. Đến thời Trung cổ, nó đã mở rộng sang các lĩnh vực công nghiệp và quân sự. Sự phát triển của cho thuê gắn liền với nhu cầu tài trợ vốn và sử dụng tài sản hiệu quả. Theo (Guojin Liu, 2010, 10). hoạt động cho thuê đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ sơ khai đến phức tạp.

1.2. Vai trò của hoạt động cho thuê tài chính trong nền kinh tế

Hoạt động cho thuê tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc huy động và phân bổ vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Nó giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn để đầu tư vào tài sản cố định mà không cần bỏ ra một lượng vốn lớn ban đầu. Điều này tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, CTTC cũng giúp giảm thiểu rủi ro tài chính cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

II. Khó Khăn Pháp Lý Thách Thức Cho Thuê Tài Chính 50 60

Mặc dù có nhiều ưu điểm, hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Khung pháp lý hiện hành chưa hoàn thiện, gây ra nhiều bất cập trong quá trình thực hiện. Điều này khiến các doanh nghiệp e ngại khi tham gia vào thị trường CTTC. Cần phải có những giải pháp để khắc phục những hạn chế này, tạo điều kiện thuận lợi cho CTTC phát triển. Các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên, xử lý tài sản cho thuê, và giải quyết tranh chấp cần được làm rõ và cụ thể hơn.

2.1. Bất cập trong quy định về chủ thể tham gia cho thuê

Quy định về chủ thể tham gia hoạt động cho thuê tài chính còn nhiều hạn chế. Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp muốn tham gia vào thị trường CTTC. Cần có những quy định rõ ràng hơn về điều kiện thành lập, hoạt động, và quản lý của các công ty CTTC. Điều này sẽ giúp tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia.

2.2. Hạn chế về tài sản cho thuê và hình thức cho thuê

Phạm vi tài sản được phép cho thuê tài chính còn hạn chế. Điều này làm giảm tính hấp dẫn của CTTC đối với các doanh nghiệp. Cần mở rộng phạm vi tài sản cho thuê, bao gồm cả những tài sản vô hình như quyền sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa các hình thức CTTC, đáp ứng nhu cầu khác nhau của các doanh nghiệp. Các hình thức thuê lại tài chính chưa được quan tâm đúng mức.

III. Hoàn Thiện Pháp Luật Giải Pháp Cho Thuê Tài Chính 50 60

Để thúc đẩy hoạt động cho thuê tài chính phát triển, cần phải hoàn thiện khung pháp lý hiện hành. Cần phải có những quy định rõ ràng, cụ thể và phù hợp với thực tiễn. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tham gia vào thị trường CTTC. Việc hoàn thiện pháp luật cần tập trung vào các vấn đề như chủ thể tham gia, tài sản cho thuê, hình thức CTTC, quyền và nghĩa vụ của các bên, và giải quyết tranh chấp.

3.1. Sửa đổi quy định về quyền và nghĩa vụ bên cho thuê

Quyền và nghĩa vụ của bên cho thuê tài chính cần được quy định rõ ràng hơn. Điều này sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của bên cho thuê và tạo sự tin tưởng cho các doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường CTTC. Cần quy định rõ về quyền thu hồi tài sản khi bên thuê vi phạm hợp đồng, quyền định đoạt tài sản sau khi hết thời hạn thuê, và nghĩa vụ bảo dưỡng, sửa chữa tài sản.

3.2. Sửa đổi quy định về quyền và nghĩa vụ bên thuê

Quyền và nghĩa vụ của bên thuê tài chính cũng cần được quy định rõ ràng. Điều này sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của bên thuê và tạo sự công bằng trong giao dịch. Cần quy định rõ về quyền sử dụng tài sản trong thời hạn thuê, quyền mua lại tài sản sau khi hết thời hạn thuê, và nghĩa vụ thanh toán tiền thuê đúng hạn.

IV. Kinh Nghiệm Quốc Tế Bài Học Cho Thuê Tài Chính VN 50 60

Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phát triển về cho thuê tài chính là rất quan trọng. Các nước như Pháp, Hàn Quốc, Trung Quốc có những quy định và chính sách hiệu quả để thúc đẩy CTTC phát triển. Việt Nam có thể học hỏi những kinh nghiệm này để hoàn thiện khung pháp lý và chính sách của mình. Cần phải xem xét những điểm tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam và các nước này để áp dụng một cách phù hợp. Các quốc gia có khung pháp lý rõ ràng và cơ chế giám sát hiệu quả sẽ có thị trường CTTC phát triển mạnh mẽ.

4.1. Kinh nghiệm từ Pháp trong quản lý hoạt động cho thuê

Pháp có hệ thống pháp luật lâu đời và chặt chẽ về cho thuê tài chính. Pháp chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi của cả bên cho thuê và bên thuê, đồng thời có cơ chế giám sát hiệu quả để đảm bảo tính minh bạch và an toàn của thị trường. Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Pháp trong việc xây dựng khung pháp lý và cơ chế giám sát.

4.2. Kinh nghiệm từ Hàn Quốc trong phát triển thị trường

Hàn Quốc có thị trường cho thuê tài chính phát triển mạnh mẽ nhờ vào sự hỗ trợ của chính phủ và sự tham gia tích cực của các tổ chức tài chính. Hàn Quốc cũng chú trọng đến việc đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về CTTC. Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Hàn Quốc trong việc xây dựng chính sách hỗ trợ và phát triển thị trường.

V. Thực Tiễn Áp Dụng Đánh Giá Hiệu Quả Cho Thuê 50 60

Việc đánh giá hiệu quả thực tiễn của các quy định pháp luật về cho thuê tài chính là rất quan trọng. Cần phải xem xét những tác động của các quy định này đối với hoạt động CTTC trên thị trường. Điều này sẽ giúp xác định những điểm mạnh, điểm yếu và những vấn đề cần cải thiện. Việc đánh giá cần dựa trên các số liệu thống kê, khảo sát thực tế, và ý kiến của các chuyên gia.

5.1. Thống kê số liệu về hoạt động cho thuê tài chính ở VN

Cần thu thập và phân tích các số liệu thống kê về hoạt động cho thuê tài chính ở Việt Nam, bao gồm số lượng hợp đồng, giá trị hợp đồng, loại tài sản cho thuê, và các chỉ số tài chính liên quan. Điều này sẽ giúp có cái nhìn tổng quan về tình hình phát triển của CTTC và đánh giá hiệu quả của các quy định pháp luật.

5.2. Phân tích tác động của pháp luật đến thị trường thuê

Cần phân tích tác động của các quy định pháp luật đến thị trường cho thuê tài chính, bao gồm tác động đến sự tham gia của các doanh nghiệp, khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, và rủi ro tài chính của các bên. Điều này sẽ giúp xác định những vấn đề cần cải thiện trong khung pháp lý.

VI. Tương Lai Cho Thuê Định Hướng Phát Triển 50 60

Hoạt động cho thuê tài chính có tiềm năng phát triển rất lớn tại Việt Nam. Với nhu cầu vốn trung và dài hạn ngày càng tăng, CTTC có thể trở thành một kênh huy động vốn quan trọng cho các doanh nghiệp. Cần phải có những định hướng và giải pháp phù hợp để khai thác tiềm năng này. Định hướng phát triển cần tập trung vào việc hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty CTTC, và tăng cường hợp tác quốc tế.

6.1. Phát triển cho thuê tài chính xuyên biên giới

Cần khuyến khích phát triển cho thuê tài chính xuyên biên giới, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận nguồn vốn và công nghệ từ nước ngoài. Điều này sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.

6.2. Ứng dụng công nghệ vào hoạt động cho thuê tài chính

Cần khuyến khích ứng dụng công nghệ vào hoạt động cho thuê tài chính, giúp nâng cao hiệu quả và giảm thiểu rủi ro. Các công nghệ như blockchain, AI, và big data có thể được sử dụng để quản lý hợp đồng, đánh giá rủi ro, và cung cấp dịch vụ khách hàng.

23/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động cho thuê tài chính Theo những nghiên cứu lịch sử, “lease” với bản chất là hoạt động cho thuê tài sản thuần túy đã xuất hiện từ rất sớm, khoảng hơn 2000 năm trước công nguyên. Những nhà khảo cổ đã tìm thấy những viên đất sét ghi lại các “hợp đồng” cho thuê tư liệu sản xuất nông nghiệp như nông cụ, đất đai, quyền nước và vật nuôi được cho là thuộc về người Sumerians sinh sống gần vịnh Ba Tư.

Một minh chứng rõ ràng khác về sự tồn tại của hoạt động cho thuê tài sản là những ghi chép về Bộ luật Hammurabi, gồm những quy định về cho thuê do vua của Babylon ban hành vào năm 1700 trước Công nguyên. Tương tự như người Sumerians, các nền văn minh cổ đại như người Hy Lạp, người La Mã, người Ai Cập và Phoenicia, cũng đã thực hiện việc cho thuê như một công cụ tài chính, nhưng ngoài những tài sản sử dụng trong nông nghiệp, tàu và đoàn thủy thủ cũng trở thành đối tượng của những giao dịch cho thuê (Guojin Liu, 2010, 10) Đến thời Trung cổ, cho thuê đã mở rộng sang cả lĩnh vực công nghiệp và quân sự. Ví dụ điển hình là hai hạm đội chiến đấu được người Anh thuê từ người Na-Uy và người Norman vào năm 1066 sau Công nguyên (Mavrogiannidou Maria, 2012, 9) Tại Anh, Đạo luật xứ Wales được soạn thảo vào năm 1284 đã ghi nhận những quy định đầu tiên về cho thuê tài sản mang tính tư nhân trên nền tảng của những điều luật đất đai sẵn có (Department of Trade and Industry, ibid, 2). Những quy định này tiếp tục được hoàn thiện vào năm 1571 bởi một quy chế làm rõ quyền sở hữu thiết bị cho thuê.

Trong khi đó, ở Mỹ, cho thuê xuất hiện vào những năm 1700 nhằm tài trợ cho việc sử dụng xe ngựa. Cho tới giữa những năm 1800, nhu cầu mở rộng các tuyến đường sắt gia tăng đòi hỏi một lượng vốn khổng lồ (Richard M Contino, 2002). Tuy nhiên các Ngân hàng lại từ chối cho vay vì những khoản tín dụng này mang tính dài hạn đi kèm với rủi ro cao. Trước yêu cầu đó, một hợp đồng với sự tham gia của bên thứ ba xuất hiện, những người sẽ gom vốn của họ và mua toa tàu hay đầu máy kéo từ 8 nhà sản xuất sau đó cho các công ty đường sắt thuê dưới dạng “chứng chỉ ủy thác thiết bị”1.

Các công ty đường sắt sẽ có quyền sở hữu thiết bị sau khi thanh toán định kỳ giá mua và chi phí thuê. Đây chính là tiền thân của hoạt động CTTC ngày nay. Thế kỷ XIX-XX chứng kiến sự phát triển nhảy vọt của khoa học kỹ thuật, tạo tiền đề cho nền sản xuất thế giới. Vì lẽ đó, hoạt động CTTC có cơ hội phát triển và trở nên phổ biến.

Dấu mốc quan trọng nhất là sự ra đời của công ty cho thuê đầu tiên trên thế giới, do Henry Shofeld thành lập vào năm 1952 tại Mỹ (D. Đến đầu những năm 1960, hoạt động này đã mở rộng khắp Châu Âu, tiếp đến là Nhật Bản cùng với một số quốc gia Châu Á khác và kể từ giữa những năm 1970, lan rộng sang rất nhiều nước đang phát triển trên toàn thế giới. Đến năm 1994, hoạt CTTC đã có mặt tại hơn 80 quốc gia với sự phát triển của các công ty tài chính độc lập có quy mô khác nhau (Mavrogiannidou Maria, 2012, 10). Hiện nay, thị trường CTTC toàn cầu được định giá khoảng 824,3 tỷ USD vào năm 2021, kỳ vọng sẽ đạt 1.751,3 tỷ USD vào năm 2027 với tốc độ CAGR 2 là 13,45% trong giai đoạn 2022-2027 (IMARC, 2021).

Theo hiệp hội Tài chính và Cho thuê thiết bị, tại báo cáo hoạt động kinh tế từ 25 công ty đại diện cho một bộ phận của lĩnh vực tài chính thiết bị với tổng vốn đạt 900 tỷ đô la, tổng khối lượng kinh doanh mới của họ trong tháng 1 năm 2021 đạt 8,1 tỷ đô la (ELFA, 2021), bất chấp những tác động tiêu cực của dịch Covid 19. Những thị trường lớn nhất của hoạt động CTTC là Mỹ, EU, Trung Quốc và Nhật Bản. Tại các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), khoảng 1/3 tổng số đầu tư thuộc khu vực tư nhân được tài trợ bởi CTTC (Phạm Thị Thúy Hà, 2015, 18). Tại Mỹ, nơi có hoạt động CTTC phát triển bậc nhất thế giới có khoảng 5460 công ty CTTC, số lượng công ty đã tăng trưởng trung bình 2,4% mỗi năm trong 5 năm từ 2017 – 2022 (IBISWorld, 2021).

Theo thống kê, hơn 50% các khoản đầu tư vốn được tài trợ bởi CTTC và nó thậm chí còn vượt qua các khoản vay Ngân hàng trong các lĩnh vực ô tô, máy bay và thiết bị văn phòng. Tại Trung Quốc, tính đến cuối năm 2019, số lượng công ty CTTC đã lên tới 12.130, tăng 2,91% và duy trì tốc độ CAGR 1 “equipment trust certificates” 2 Tỉ lệ tăng trưởng hàng năm kép 9 là 51,6%, số dư hợp đồng CTTC đạt 6,654 tỷ NDT, trong đó, các công ty CTTC thuộc Ngân hàng là lực lượng chính của ngành. Các chuyên gia dự đoán rằng các giao dịch CTTC của Trung Quốc sẽ lên tới 13,16 nghìn tỷ NDT hoặc thậm chí cao hơn vào năm 2026 (ResearchInChina, 2020). So với các nước trên thế giới, CTTC xuất hiện khá muộn ở Việt Nam.

Phải đến năm 1995, quy chế pháp lý chính thức đầu tiên điều chỉnh hoạt động CTTC mới được ban hành tại Quyết định số 149/QĐ-NH5 ngày 27/05/1995 về thể lệ tín dụng thuê mua, sau đó khung pháp lý về CTTC từng bước được hoàn thiện. Công ty TNHH Cho thuê tài chính Quốc tế Việt Nam (VILC) là công ty cho thuê tài chính đầu tiên được cấp phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam, vào đầu năm 1997 (VILC, không năm xuất bản). Hiện nay có 10 công ty CTTC đang hoạt động trên thị trường với tổng vốn điều lệ đạt 5711,611 tỷ đồng (NHNN, 2022), con số vẫn còn khá khiêm tốn so với mặt bằng chung trên thế giới. Khái niệm hoạt động cho thuê tài chính Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, hoạt động CTTC đã và đang khẳng định được vị thế quan trọng của mình trên thị trường công cụ tài chính.

Vì lẽ đó, có nhiều định nghĩa, khái niệm hay đơn giản là những cách hiểu khác nhau được đưa ra dưới cả góc nhìn kinh tế và góc nhìn pháp lý, cụ thể: - Trước nhu cầu thống nhất các luật áp dụng cho CTTC trên phạm vi quốc tế và nhằm gỡ bỏ các rào cản để cơ chế tài trợ này có thể được phổ biến rộng rãi, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán hàng hóa quốc tế, Unidroit đã đưa ra hai văn kiện pháp lý quan trọng: Điều 1 (1) Công ước Unidroit về CTTC quốc tế quy định: Giao dịch CTTC bao gồm hai thỏa thuận do bên cho thuê ký kết: “a) Theo yêu cầu cụ thể của bên thuê, bên cho thuê ký kết hợp đồng cung cấp với nhà cung cấp mà theo đó bên cho thuê mua tài sản theo các điều khoản được bên thuê chấp thuận và; 10 b) Bên cho thuê cũng ký kết hợp đồng cho thuê với bên thuê và cấp cho bên thuê quyền sử dụng tài sản. Điều 2 (18) Bộ luật mẫu Unidroit về cho thuê quy định: Thuê tài chính có nghĩa là một hợp đồng thuê, có hoặc không có tùy chọn để mua toàn bộ hoặc một phần của tài sản, bao gồm các đặc điểm sau: “(a) bên thuê chỉ định tài sản và chọn nhà cung cấp; (b) người cho thuê mua tài sản liên quan đến hợp đồng thuê và nhà cung cấp có kiến thức về thực tế đó; và (c) tiền thuê hoặc các khoản tiền khác phải trả theo hợp đồng thuê tính đến hoặc không tính đến việc khấu hao toàn bộ hoặc một phần đáng kể một phần đầu tư của bên cho thuê” (Unidroit, 2008) Phân tích hai quy định trên có thể thấy, cả Công ước và Luật mẫu đều xác định hoạt động CTTC gồm ba nội dung chính: (a) không yêu cầu cũng không loại trừ một lựa chọn mua tài sản khi kết thúc hợp đồng thuê; (b) nhấn mạnh rằng CTTC là một mối quan hệ tam giác giữa bên thuê, bên cho thuê và nhà cung cấp; (c) bao gồm hai thỏa thuận riêng biệt, độc lập nhưng có mối quan hệ trực tiếp: (1) Hợp đồng mua bán tài sản giữa nhà cung cấp và bên cho thuê; (2) Hợp đồng CTTC giữa bên cho thuê và bên thuê. Theo đó bên cho thuê mua tài sản từ nhà cung cấp theo các chỉ dẫn, yêu cầu đã được chấp thuận mà bên thuê đưa ra, sau đó, bên cho thuê trao quyền chiếm hữu và sử dụng tài sản cho bên thuê để đổi lại tiền thuê trong khi duy trì quyền sở hữu đối với tài sản. - Trong khi đó, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (International Accounting Standards Committee- IASC) đưa ra một định nghĩa mang tính kinh tế trong IFRS [16:62]: “CTTC là hình thức cho thuê chuyển giao cơ bản tất cả các rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản” (IASC, 2016).

IASC còn liệt kê năm yếu tố để xác định một hợp đồng CTTC, phân biệt với các hợp đồng cho thuê thông thường4. Cụ thể, khác với Unidroit, để được xác định là hoạt động CTTC thì khi hết thời hạn thuê, bên thuê phải có quyền chọn mua tài sản 4 IFRS [16:63] 11 thuê. Ngoài ra, IASC còn quy định về thời hạn thuê, giá thuê và việc sử dụng tài sản thuê. Điều này dẫn đến phạm vi hoạt động CTTC xác định theo IASC sẽ hẹp hơn so với Unidroit.

Một điểm khác biệt nữa trong IFRS 16 so với Công Ước và Luật mẫu là IFRS 16 không xác định hoạt động CTTC phải có sự tham gia của ba bên. - Theo quan điểm của Societe Generale Equipment Finance: CTTC là một thỏa thuận trong đó, sau khi bên thuê lựa chọn nhà cung cấp và tài sản phải thuê, bên cho thuê mua tài sản từ nhà cung cấp và cho bên thuê thuê tài sản, bên thuê trả tiền thuê để sử dụng tài sản đó; Bên cho thuê giữ quyền sở hữu tài sản và tính tiền thuê tài sản, trong khi bên thuê được hưởng quyền sử dụng tài sản theo thời hạn của hợp đồng thuê và khi kết thúc hợp đồng thuê, người thuê có thể được hưởng lợi từ quyền chọn mua thiết bị, như được xác định trong hợp đồng thuê (SGEF, không năm xuất bản).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Pháp Luật Về Hoạt Động Cho Thuê Tài Chính Tại Việt Nam: Thực Trạng Và Giải Pháp" cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình pháp lý liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam. Tài liệu phân tích thực trạng hiện tại, những thách thức mà ngành này đang đối mặt, và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động cho thuê tài chính. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức pháp luật có thể hỗ trợ sự phát triển bền vững của ngành cho thuê tài chính, từ đó nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn cho các doanh nghiệp.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn tốt nghiệp giải pháp thúc đẩy hoạt động cho thuê tài chính tại việt nam, nơi cung cấp các giải pháp cụ thể để phát triển ngành cho thuê tài chính. Ngoài ra, tài liệu Giải pháp hạn chế rủi ro trong nghiệp vụ cho thuê tài chính tại công ty cho thuê tài chính ngân hàng công thương việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp giảm thiểu rủi ro trong lĩnh vực này. Cuối cùng, tài liệu Hoàn thiện ông tác quản lý tài sản cho thuê tài chính tại công ty tnhh mtv cho thuê tài chính công nghiệp tàu thủy sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý tài sản trong ngành cho thuê tài chính. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về lĩnh vực cho thuê tài chính tại Việt Nam.