CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH 1. Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động cho thuê tài chính Theo những nghiên cứu lịch sử, “lease” với bản chất là hoạt động cho thuê tài sản thuần túy đã xuất hiện từ rất sớm, khoảng hơn 2000 năm trước công nguyên. Những nhà khảo cổ đã tìm thấy những viên đất sét ghi lại các “hợp đồng” cho thuê tư liệu sản xuất nông nghiệp như nông cụ, đất đai, quyền nước và vật nuôi được cho là thuộc về người Sumerians sinh sống gần vịnh Ba Tư.
Một minh chứng rõ ràng khác về sự tồn tại của hoạt động cho thuê tài sản là những ghi chép về Bộ luật Hammurabi, gồm những quy định về cho thuê do vua của Babylon ban hành vào năm 1700 trước Công nguyên. Tương tự như người Sumerians, các nền văn minh cổ đại như người Hy Lạp, người La Mã, người Ai Cập và Phoenicia, cũng đã thực hiện việc cho thuê như một công cụ tài chính, nhưng ngoài những tài sản sử dụng trong nông nghiệp, tàu và đoàn thủy thủ cũng trở thành đối tượng của những giao dịch cho thuê (Guojin Liu, 2010, 10) Đến thời Trung cổ, cho thuê đã mở rộng sang cả lĩnh vực công nghiệp và quân sự. Ví dụ điển hình là hai hạm đội chiến đấu được người Anh thuê từ người Na-Uy và người Norman vào năm 1066 sau Công nguyên (Mavrogiannidou Maria, 2012, 9) Tại Anh, Đạo luật xứ Wales được soạn thảo vào năm 1284 đã ghi nhận những quy định đầu tiên về cho thuê tài sản mang tính tư nhân trên nền tảng của những điều luật đất đai sẵn có (Department of Trade and Industry, ibid, 2). Những quy định này tiếp tục được hoàn thiện vào năm 1571 bởi một quy chế làm rõ quyền sở hữu thiết bị cho thuê.
Trong khi đó, ở Mỹ, cho thuê xuất hiện vào những năm 1700 nhằm tài trợ cho việc sử dụng xe ngựa. Cho tới giữa những năm 1800, nhu cầu mở rộng các tuyến đường sắt gia tăng đòi hỏi một lượng vốn khổng lồ (Richard M Contino, 2002). Tuy nhiên các Ngân hàng lại từ chối cho vay vì những khoản tín dụng này mang tính dài hạn đi kèm với rủi ro cao. Trước yêu cầu đó, một hợp đồng với sự tham gia của bên thứ ba xuất hiện, những người sẽ gom vốn của họ và mua toa tàu hay đầu máy kéo từ 8 nhà sản xuất sau đó cho các công ty đường sắt thuê dưới dạng “chứng chỉ ủy thác thiết bị”1.
Các công ty đường sắt sẽ có quyền sở hữu thiết bị sau khi thanh toán định kỳ giá mua và chi phí thuê. Đây chính là tiền thân của hoạt động CTTC ngày nay. Thế kỷ XIX-XX chứng kiến sự phát triển nhảy vọt của khoa học kỹ thuật, tạo tiền đề cho nền sản xuất thế giới. Vì lẽ đó, hoạt động CTTC có cơ hội phát triển và trở nên phổ biến.
Dấu mốc quan trọng nhất là sự ra đời của công ty cho thuê đầu tiên trên thế giới, do Henry Shofeld thành lập vào năm 1952 tại Mỹ (D. Đến đầu những năm 1960, hoạt động này đã mở rộng khắp Châu Âu, tiếp đến là Nhật Bản cùng với một số quốc gia Châu Á khác và kể từ giữa những năm 1970, lan rộng sang rất nhiều nước đang phát triển trên toàn thế giới. Đến năm 1994, hoạt CTTC đã có mặt tại hơn 80 quốc gia với sự phát triển của các công ty tài chính độc lập có quy mô khác nhau (Mavrogiannidou Maria, 2012, 10). Hiện nay, thị trường CTTC toàn cầu được định giá khoảng 824,3 tỷ USD vào năm 2021, kỳ vọng sẽ đạt 1.751,3 tỷ USD vào năm 2027 với tốc độ CAGR 2 là 13,45% trong giai đoạn 2022-2027 (IMARC, 2021).
Theo hiệp hội Tài chính và Cho thuê thiết bị, tại báo cáo hoạt động kinh tế từ 25 công ty đại diện cho một bộ phận của lĩnh vực tài chính thiết bị với tổng vốn đạt 900 tỷ đô la, tổng khối lượng kinh doanh mới của họ trong tháng 1 năm 2021 đạt 8,1 tỷ đô la (ELFA, 2021), bất chấp những tác động tiêu cực của dịch Covid 19. Những thị trường lớn nhất của hoạt động CTTC là Mỹ, EU, Trung Quốc và Nhật Bản. Tại các nước thuộc tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), khoảng 1/3 tổng số đầu tư thuộc khu vực tư nhân được tài trợ bởi CTTC (Phạm Thị Thúy Hà, 2015, 18). Tại Mỹ, nơi có hoạt động CTTC phát triển bậc nhất thế giới có khoảng 5460 công ty CTTC, số lượng công ty đã tăng trưởng trung bình 2,4% mỗi năm trong 5 năm từ 2017 – 2022 (IBISWorld, 2021).
Theo thống kê, hơn 50% các khoản đầu tư vốn được tài trợ bởi CTTC và nó thậm chí còn vượt qua các khoản vay Ngân hàng trong các lĩnh vực ô tô, máy bay và thiết bị văn phòng. Tại Trung Quốc, tính đến cuối năm 2019, số lượng công ty CTTC đã lên tới 12.130, tăng 2,91% và duy trì tốc độ CAGR 1 “equipment trust certificates” 2 Tỉ lệ tăng trưởng hàng năm kép 9 là 51,6%, số dư hợp đồng CTTC đạt 6,654 tỷ NDT, trong đó, các công ty CTTC thuộc Ngân hàng là lực lượng chính của ngành. Các chuyên gia dự đoán rằng các giao dịch CTTC của Trung Quốc sẽ lên tới 13,16 nghìn tỷ NDT hoặc thậm chí cao hơn vào năm 2026 (ResearchInChina, 2020). So với các nước trên thế giới, CTTC xuất hiện khá muộn ở Việt Nam.
Phải đến năm 1995, quy chế pháp lý chính thức đầu tiên điều chỉnh hoạt động CTTC mới được ban hành tại Quyết định số 149/QĐ-NH5 ngày 27/05/1995 về thể lệ tín dụng thuê mua, sau đó khung pháp lý về CTTC từng bước được hoàn thiện. Công ty TNHH Cho thuê tài chính Quốc tế Việt Nam (VILC) là công ty cho thuê tài chính đầu tiên được cấp phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam, vào đầu năm 1997 (VILC, không năm xuất bản). Hiện nay có 10 công ty CTTC đang hoạt động trên thị trường với tổng vốn điều lệ đạt 5711,611 tỷ đồng (NHNN, 2022), con số vẫn còn khá khiêm tốn so với mặt bằng chung trên thế giới. Khái niệm hoạt động cho thuê tài chính Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới, hoạt động CTTC đã và đang khẳng định được vị thế quan trọng của mình trên thị trường công cụ tài chính.
Vì lẽ đó, có nhiều định nghĩa, khái niệm hay đơn giản là những cách hiểu khác nhau được đưa ra dưới cả góc nhìn kinh tế và góc nhìn pháp lý, cụ thể: - Trước nhu cầu thống nhất các luật áp dụng cho CTTC trên phạm vi quốc tế và nhằm gỡ bỏ các rào cản để cơ chế tài trợ này có thể được phổ biến rộng rãi, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán hàng hóa quốc tế, Unidroit đã đưa ra hai văn kiện pháp lý quan trọng: Điều 1 (1) Công ước Unidroit về CTTC quốc tế quy định: Giao dịch CTTC bao gồm hai thỏa thuận do bên cho thuê ký kết: “a) Theo yêu cầu cụ thể của bên thuê, bên cho thuê ký kết hợp đồng cung cấp với nhà cung cấp mà theo đó bên cho thuê mua tài sản theo các điều khoản được bên thuê chấp thuận và; 10 b) Bên cho thuê cũng ký kết hợp đồng cho thuê với bên thuê và cấp cho bên thuê quyền sử dụng tài sản. Điều 2 (18) Bộ luật mẫu Unidroit về cho thuê quy định: Thuê tài chính có nghĩa là một hợp đồng thuê, có hoặc không có tùy chọn để mua toàn bộ hoặc một phần của tài sản, bao gồm các đặc điểm sau: “(a) bên thuê chỉ định tài sản và chọn nhà cung cấp; (b) người cho thuê mua tài sản liên quan đến hợp đồng thuê và nhà cung cấp có kiến thức về thực tế đó; và (c) tiền thuê hoặc các khoản tiền khác phải trả theo hợp đồng thuê tính đến hoặc không tính đến việc khấu hao toàn bộ hoặc một phần đáng kể một phần đầu tư của bên cho thuê” (Unidroit, 2008) Phân tích hai quy định trên có thể thấy, cả Công ước và Luật mẫu đều xác định hoạt động CTTC gồm ba nội dung chính: (a) không yêu cầu cũng không loại trừ một lựa chọn mua tài sản khi kết thúc hợp đồng thuê; (b) nhấn mạnh rằng CTTC là một mối quan hệ tam giác giữa bên thuê, bên cho thuê và nhà cung cấp; (c) bao gồm hai thỏa thuận riêng biệt, độc lập nhưng có mối quan hệ trực tiếp: (1) Hợp đồng mua bán tài sản giữa nhà cung cấp và bên cho thuê; (2) Hợp đồng CTTC giữa bên cho thuê và bên thuê. Theo đó bên cho thuê mua tài sản từ nhà cung cấp theo các chỉ dẫn, yêu cầu đã được chấp thuận mà bên thuê đưa ra, sau đó, bên cho thuê trao quyền chiếm hữu và sử dụng tài sản cho bên thuê để đổi lại tiền thuê trong khi duy trì quyền sở hữu đối với tài sản. - Trong khi đó, Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (International Accounting Standards Committee- IASC) đưa ra một định nghĩa mang tính kinh tế trong IFRS [16:62]: “CTTC là hình thức cho thuê chuyển giao cơ bản tất cả các rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản” (IASC, 2016).
IASC còn liệt kê năm yếu tố để xác định một hợp đồng CTTC, phân biệt với các hợp đồng cho thuê thông thường4. Cụ thể, khác với Unidroit, để được xác định là hoạt động CTTC thì khi hết thời hạn thuê, bên thuê phải có quyền chọn mua tài sản 4 IFRS [16:63] 11 thuê. Ngoài ra, IASC còn quy định về thời hạn thuê, giá thuê và việc sử dụng tài sản thuê. Điều này dẫn đến phạm vi hoạt động CTTC xác định theo IASC sẽ hẹp hơn so với Unidroit.
Một điểm khác biệt nữa trong IFRS 16 so với Công Ước và Luật mẫu là IFRS 16 không xác định hoạt động CTTC phải có sự tham gia của ba bên. - Theo quan điểm của Societe Generale Equipment Finance: CTTC là một thỏa thuận trong đó, sau khi bên thuê lựa chọn nhà cung cấp và tài sản phải thuê, bên cho thuê mua tài sản từ nhà cung cấp và cho bên thuê thuê tài sản, bên thuê trả tiền thuê để sử dụng tài sản đó; Bên cho thuê giữ quyền sở hữu tài sản và tính tiền thuê tài sản, trong khi bên thuê được hưởng quyền sử dụng tài sản theo thời hạn của hợp đồng thuê và khi kết thúc hợp đồng thuê, người thuê có thể được hưởng lợi từ quyền chọn mua thiết bị, như được xác định trong hợp đồng thuê (SGEF, không năm xuất bản).