CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỨNG KHOÁN PHÁI SINH 1.1 Khái quát về chứng khoán phái sinh 1.1 Khái niệm chứng khoán phái sinh Hiện nay, các giao dịch phái sinh ngày càng được phổ biến hơn, các hợp đồng phái sinh được phân tách ra thành một kênh đầu tư tài chính riêng và được nghiên cứu và phân tích kỹ lưỡng. Để tìm hiểu sâu về thị trường trước hết chúng ta phải tìm về nguồn gốc của chúng, những công cụ phái sinh đầu tiên được cho là bắt nguồn từ thời Trung cổ, khi có nhu cầu bảo hiểm cho hàng hóa nông sản, hợp đồng quyền chọn cũng được ra đời năm 624 B.C, năm 1848 trung tâm giao dịch Chicago Board of Trade cho ra đời và giao dịch công cụ phái sinh đầu tiên, năm 1970 Nhật Bản giao dịch hợp đồng tương lai lúa gạo. Các giao dich này có đặc điểm chung là chúng có mối quan hệ giữa tài sản cơ sở và phái sinh đó, có thể trao đổi thông qua hình thức giao dịch riêng hoặc giao dịch công khai (Học viện Ngân Hàng, 2017). Xuất phát từ thuật ngữ tiếng anh thì Derivative là quyền được mua hoặc được bán các hàng hóa cụ thể.
Khác với các giá trị căn bản (Underlying) thì phái sinh chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định chính vì thế chúng có một giá trị mà các giá trị căn bản không có đó là giá trị thời gian (Time value). Xuất phát từ từ ngữ “phái sinh” theo Hán – Việt được hiểu là (từ hoặc nghĩa từ) được tạo ra từ một yếu tố gốc bằng cách thêm, bớt hoặc biến đổi một vài thành tố nào đó. Công cụ phái sinh, cũng tương tự như vậy, là công cụ tài chính mà các giá trị của chúng phụ thuộc vào một tài sản cơ sở, có thể là vàng, bạc, dầu thô, lúa gạo, cũng có thể là lãi suất hoặc chỉ số. Một số khái niệm được thừa nhận rộng rãi: Theo Công ty chứng khoán Pinetree (2021) thì “Chứng khoán phái sinh là 1 hợp đồng tài chính được thiết lập ngày hôm nay giữa hai bên tham gia, về một giao dịch sẽ được thực hiện vào một thời điểm nào đó trong tương lai.
Giao dịch được thỏa thuận trong hợp đồng thường liên quan đến việc mua/ bán một tài sản – chính là tài sản cơ sở của chứng khoán phái sinh. Trong thời gian tồn tại của hợp đồng, 7 giá trị của chứng khoán phái sinh không cố định mà thay đổi theo sự biến động giá tài sản cơ sở của nó”. Theo Michael Chui (2012) thì “Trong lĩnh vực tài chính kinh tế, một chứng khoán phái sinh thường được gọi là một hợp đồng tài chính có giá trị được lấy từ giá trị của một tài sản cơ bản. Có rất nhiều tài sản tài chính đã được sử dụng như cơ sở, bao gồm chứng khoán hoặc chỉ số vốn cổ phần, các công cụ thu nhập cố định, ngoại tệ, hàng hóa, các sự kiện tín dụng và thậm chí các chứng khoán phái sinh khác.
Tùy thuộc vào loại cơ sở, giá trị của hợp đồng phái sinh có thể được lấy từ giá vốn cổ phần tương ứng, lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá cả hàng hoá và xác suất của các sự kiện tín dụng”. Trong cuốn Dictionary of Finance and Investement Terms được viết năm 1994 bởi hai tác giả John Downes và Jordan Elliot Goodman thì chứng khoán phái sinh được định nghĩa như sau: “Chứng khoán phái sinh là một hợp đồng có giá trị phụ thuộc vào kết quả hoạt động của một tài sản, tài chính gốc, hoặc một chỉ số hoặc các công cụ đầu tư khác”. Có rất nhiều khái niệm về chứng khoán phái sinh nhưng tựu chung lại có thể hiểu được là chứng khoán phái sinh là một loại công cụ tài chính mà giá trị của nó phụ thuộc vào giá trị của một thứ khác, làm cơ sở và dễ thay đổi gọi là công cụ cơ sở. Bản thân chứng khoán phái sinh không có giá trị nội tại, nó bắt nguồn từ giá trị của một công cụ cơ sở và giá của công cụ phái sinh cũng phụ thuộc vào giá của chính công cụ cơ sở đó.
Ví dụ, quyền chọn mua cổ phiếu là một loại chứng khoán phái sinh, giá trị của nó phụ thuộc vào giá cổ phiếu. Khác với các chứng khoán khác, chứng khoán phái sinh không cho người nắm giữ có các quyền sở hữu công ty hay các quyền liên quan đến vốn góp của người sở hữu đối với tổ chức phát hành mà chỉ liên quan đến những cam kết giữa bên mua và bên bán. Khi các tổ chức, cá nhân tham gia cam kết để giao dịch chứng khoán phái sinh thì mục tiêu của họ là bảo vệ chính họ khỏi những rủi ro khi có sự thay đổi lãi suất, giá trị tiền tệ hay giá cả hàng hóa liên quan. Do vậy, có thể nói rằng tham gia giao dịch chứng khoán phái sinh không phải là các nhà đầu tư mà là những người đầu cơ hay kinh doanh để hưởng chênh lệch giá, hoặc có thể coi họ là những người muốn quản lý rủi ro danh mục đầu tư của mình.
Chứng khoán phái sinh không xác nhận quyền chủ sở hữu hay quyền chủ nợ đối với tổ chức phát hành mà xác nhận các quyền 8 và nghĩa vụ của các bên cam kết như quyền ưu tiên, quyền lựa chọn mua hay bán tài sản, quyền được thực hiện hay không thực hiện….2 Phân loại chứng khoán phái sinh Có rất nhiều công cụ chứng khoán phái sinh khác nhau được giao dịch trên TTCK phái sinh, trong phạm vi của phần viết này đề tài đưa ra xem xét các công cụ phái sinh phổ biến sau: Phân loại theo phương thức giao dịch trên thị trường thì chia ra thành chứng khoán phái sinh được niêm yết và chứng khoán phái sinh trên OTC; phân loại theo điều kiện hợp đồng thì chia ra thành hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai, hợp đồng kì hạn, hoán đổi (Don M. Chance and Robert Brooks, 2008).1 Phân loại theo phương thức giao dịch trên thị trường Căn cứ vào phương thức giao dịch trên thị trường, TTCKPS có thể chia thành hai loại là chứng khoán phái sinh được niêm yết và chứng khoán phái sinh trên OTC Chứng khoán phái sinh niêm yết: “Những điều khoản trong hợp đồng của loại chứng khoán phái sinh này thường mang tính tiêu chuẩn cao. Và có những biện pháp cần thiết để kịp thời giảm thiểu rủi ro, đồng thời đảm bảo sự lành mạnh, ổn định trên thị trường. Trong đó có hai dạng chứng khoán niêm yết điển hình là hợp đồng tương là và quyền chọn” (Don M.
Chance and Robert Brooks, 2008). Những giao dịch được giao dịch thông qua các sàn phái sinh chuyên biệt hoặc các sàn giao dịch khác đã được chuẩn hóa và được sàn giao dịch theo một số quy định tương ứng. Các phái sinh có thể sử dụng để quản lý rủi ro hoặc đầu cơ. Những giao dịch qua sàn thường là việc đầu cơ giữa chủ doanh nghiệp với các nhà đầu tư tài chính trong đó một cơ hội kiếm lời là khả năng nhận định, đánh giá rủi ro của nhà đầu tư để tăng lợi nhuận.
Chứng khoán phái sinh trên thị trường phi tập trung: “Loại chứng khoán này thì không có cơ chế tổ chức và tập trung như dạng chứng khoán phái sinh niêm yết. Hai tiêu chí hoạt động chủ yếu là cơ sở thỏa thuận và đàm phán. Hơn nữa là các điều khoản trong hợp đồng cũng không được tiêu chuẩn hóa. Mà thay vào đó là sự linh hoạt, để sao cho phù hợp với nhu cầu của cả hai bên là được.
Các dạng của 9 loại chứng khoán phái sinh này có hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng hoán đổi và một số quyền chọn” (Don M. Chance and Robert Brooks, 2008). Nếu xét trên khía cạnh phương thức giao dịch để phân biệt thì thị trường phái sinh OTC tại nước ngoài được giao dịch lớn hơn cả, theo BIS, “tổng giá trị thị trường của các công cụ phái sinh OTC là 12,6T USD và giá trị danh nghĩa toàn cầu của nó là 640 tỷ USD vào năm 2019” (Bank for International Settlements, 2019). Thị trường OTC đóng một vai trò vô cùng quan trọng là nơi để những cá nhân tổ chức lớn mua bán các loại tài sản hoặc tiền điện tử mà không làm tăng hay giảm giá ngiêm trọng, giúp tối đa hóa sức mạnh giao dịch.
Các giao dịch OTC thường được xem là những giao dịch riêng tư, không cần thông qua những bước giao dịch thông thường và do đó không được hiển thị trong bất kỳ sổ đặt hàng công khai nào.2 Phân loại theo điều kiện hợp đồng Các phái sinh được chia thành các loại là các sản phẩm "khóa cứng" hoặc "tùy chọn". Các sản phẩm “khóa cứng” bao gồm các loại như hợp đồng hoán đổi, hợp đồng tương lai, cũng có thể là các hợp đồng kỳ hạn, đặc trưng là các bên sẽ ràng buộc với các điều khoản trong toàn bộ thời gian của hợp đồng còn các sản phẩm tùy chọn ví dụ như trần lãi suất sẽ là quyền của người mua chứ không phải nghĩa vụ tức là tính ràng buộc với các điều khoản là không tuyệt đối. Hợp đồng tương lai (Futures): “Là các hợp đồng mua hoặc bán một tài sản vào thời điểm nhất định hoặc trước một ngày trong tương lai ở một mức giá quy định ngày hôm nay; hợp đồng tương lai là một hợp đồng chuẩn hóa được viết bởi một nhà thanh toán bù trừ vận hành một sàn giao dịch (ETD) nơi hợp đồng này có thể được mua và bán. Trên thị trường hợp đồng có hai vị thế gọi là vị thế mua và vị thế bán.
Vị thế mua là kết quả của việc mua hợp đồng tương lai, người giữ vị thế mua có nghĩa vụ mua tài sản gốc vào ngày giao hàng với một mức giá xác định và vị thế bán, ngược lại, là kết quả của việc bán hợp đồng tương lai và có nghĩa vụ bán tài sản gốc vào ngày giao hàng với một mức giá nhất định. Khi tham gia hợp đồng tương lai, các bên tham gia không cần đầu tư toàn bộ số tiền mà chỉ cần phải trả một tỷ lệ nhất 10 định nào đó được gọi là ký quỹ ban đầu. Hiện nay, trên thế giới đã phát triển nhiều loại hình hợp đồng tương lai như: Hợp đồng tương lai về sản phẩm nông nghiệp, hợp đồng tương lai về kim loại, hợp đồng tương lai về ngoại tệ, hợp đồng tương lai về tài chính, hợp đồng tương lai về lãi suất.