Chương 1 Cơ sở lý luận của pháp luật về Phòng chống rửa tiền thông qua việc giám sát giao dịch tài khoản thanh toán của khách hàng tại các Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng thực thi pháp luật Phòng chống rửa tiền thông qua giám sát giao dịch thanh toán qua tài khoản của khách hàng tại các Ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Chương 3: Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật Phòng chống rửa tiền thông qua giám sát giao dịch tài khoản thanh toán của khách hàng tại các Ngân hàng thương mại. 12 C n 1 CƠ SỞ L LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ PH NG CHỐNG RỬ TIỀN TH NG QU VI C GI M S T GI O DỊCH TÀI HOẢN THANH TOÁN CỦ H CH HÀNG TẠI C C NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Các vấn đề c b n về phòng chống rửa tiền thông qua việc giám sát giao dịch tài kho n thanh toán c a khách hàng 1. Khái quát chung các vấn đề về rửa tiền 1. Khái niệm rửa tiền theo pháp luật thế giới và trong nước Thuật ngữ rửa tiền đã tồn tại từ lâu trong luật pháp quốc tế vào những năm 70 của thế kỷ thứ XX, thuật ngữ “rửa tiền” lần đầu tiên xuất hiện và được nhắc đến trong cáo trạng đối với một công ty có tên Laundromats- công ty kinh doanh chuyên nhận tiền m t, do một tội phạm có tên Al Capon mua lại và sử dụng để hòa trộn tiền bẩn với tiền sạch tại Mỹ và bị xử về tội trốn thuế như sau: “Rửa tiền được gọi như vậy vì nó miêu tả một cách hoàn hảo những gì diễn ra - tiền bẩn ho c bất hợp pháp được đưa vào một vòng các giao dịch, ho c được rửa sạch sao cho nó ra đ ng kia như là tiền hợp pháp hay tiền sạch. Nói cách khác, nguồn gốc của những khoản tiền kiếm được một cách bất hợp pháp được làm lu mờ đi thông qua một chuỗi sự chuyển đổi ho c giao dịch sao cho những khoản tiền đó có vẻ là những khoản thu hợp pháp”8.
Như vậy, theo pháp luật Hoa Kỳ “rửa tiền” được nhận định như là một sự trộn lẫn tiền bẩn vào tiền sạch thông qua nhiều loại cũng như phương thức giao dịch nh m xoá đi các dấu vết về nguồn gốc của những đồng tiền bẩn l c ban đầu và thông qua tiền sạch để làm cho tất cả trở nên hợp pháp. Tuy nhiên qua thời gian cũng như sự phát triển của loại tội phạm này, định nghĩa trên dần được mở rộng hơn nữa và định nghĩa rửa tiền được hầu hết các quốc gia trên thế giới tán thành sử dụng, được quy định trong công ước của Liên hiệp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp 8 Đ c san tuyên truyền pháp luật số 01/2014 - Chủ đề Pháp luật về phòng, chống rửa tiền18/03/2014, Một số vấn đề về khái niệm, vị trí, vai trò của công tác phòng, chống rửa tiền, Nguồn: <http://canhsatnhandan.vn/Home/Print/1103/Mot-so-van-de-ve-khai-niem-vi-tri-vai-tro-cua-cong-tac- phong-chong-rua-tien>, Ngày truy cập: 12 tháng 03 năm 2018] 13 và các chất hướng thần (1988), (Công ước Viên)9 và Công ước của Liên hiệp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (2000) (Công ước Palécmô)10. Theo đó rửa tiền được định nghĩa như sau: “Chuyển hoán hoặc chuyển nhượng tài sản khi biết tài sản đó có nguồn gốc từ các hành vi phạm tội; Hoặc tham gia vào hành vi nhằm mục đích giấu giếm hoặc che đậy nguồn gốc phi pháp của tài sản hoặc tiếp tay cho bất kỳ cá nhân nào tham gia vào hành vi này; Hoặc giấu giếm hoặc che đậy bản chất thực, nguồn gốc, địa điểm, việc định đoạt, sự chuyển dịch, các quyền liên quan đến tài sản hoặc quyền sở hữu tài sản khi biết rằng tài sản đó có được từ hành vi phạm tội; Hoặc có được, chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản khi tại thời điểm tiếp nhận nó đã biết rằng tài sản này có được từ hành vi phạm tội”11. Công ước Viên chỉ các giới hạn tội phạm liên quan đến ma t y mới cấu thành tội rửa tiền còn các loại tội phạm khác như lừa đảo, bắt cóc, trộm cắp, chiếm đoạt tài sản… thì không cấu thành loại tội này.
Như vậy câu hỏi đ t ra, liệu có đầy đủ khi chỉ giới hạn hành vi phạm tội liên quan đến rửa tiền? Trước tình hình đó vào năm 2003, FATF12 và các tổ chức quốc tế khác đã mở rộng định nghĩa về loại tội phạm này b ng cách thêm vào đó 40 khuyến nghị về phòng chống rửa tiền, theo đó đã liệt kê được 20 hành vi phạm tội phải được đề cập đến trong các tội phạm nguồn của tội rửa tiền13. Tại Việt Nam, khái niệm có liên quan đến rửa tiền được quy định lần đầu tiên tại Luật các Tổ chức tín dụng năm 1997. Tuy chưa thật sự có định nghĩa cụ thể trong văn bản pháp luật, nhưng quy định này cũng phần nào 9 Công ước Vienna (1988), Nguồn: <http://thuvienphapluat.vn/van-ban/Trach-nhiem-hinh-su/Cong- uoc-ve-chong-buon-ban-cac-chat-ma-tuy-va-chat-huong-than-152005.aspx>, Ngày truy cập: 12 tháng 03 năm 2016]. 10 Công ước Palermo (2000), Available at: <http://www.org/adhoc/palermo/convmain.
11 Điều 3 Công ước Vienna (1988) và điều 6 Công ước Palermo (2000), Nguồn: <https://vi.org/wiki/R%E1%BB%ADa_ti%E1%BB%81n>, [Ngày truy cập: 12 tháng 3 năm 2016]. 12 Định nghĩa FATF, Available at: <http://www.org/about/>, [Accessed: 20 March 2016] 13 Bốn mươi khuyến nghị của FATF, Nguồn: <http://www.org/publications/fatfrecommendations/documents/the40recommendationspublishedoctober2004. 14 mường tượng được, các khoản tiền có nguồn gốc bất hợp pháp chính là các khoản tiền, có thể được tội phạm sử dụng để phục vụ cho mục đích rửa tiền. Theo quy định tại Điều 19 Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, thì tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng không được che giấu, thực hiện bất kỳ dịch vụ nào liên quan đến khoản tiền, đã có b ng chứng về nguồn gốc bất hợp pháp.
Trong trường hợp phát hiện các khoản tiền có dấu hiệu bất hợp pháp, tổ chức tín dụng và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng phải thông báo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cụ thể hóa quy định về phòng chống rửa tiền, ngày 07/6/2005, Nghị định số 74/2005/NĐ-CP về phòng, chống rửa tiền ra đời, có thể nói lần đầu tiên thuật ngữ “rửa tiền” được cụ thể hoá vào văn bản pháp luật Việt Nam một cách chính thống, được sử dụng và giải thích như sau: “Rửa tiền là hành vi của cá nhân, tổ chức tìm cách hợp pháp hoá tiền, tài sản do phạm tội mà có thông qua các hoạt động cụ thể sau đây: a) Tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào một giao dịch liên quan đến tiền, tài sản do phạm tội mà có; b) Thu nhận, chiếm giữ, chuyển dịch, chuyển đổi, chuyển nhượng, vận chuyển, sử dụng, vận chuyển qua biên giới tiền, tài sản do phạm tội mà có; c) Đầu tư vào một dự án, một công trình, góp vốn vào một doanh nghiệp hoặc tìm cách khác che đậy, nguỵ trang hoặc cản trở việc xác minh nguồn gốc, bản chất thật sự hoặc vị trí, quá trình di chuyển hoặc quyền sở hữu đối với tiền, tài sản do phạm tội mà có”. Ngoài ra nếu nói về quy định rửa tiền thì không thể thiếu Bộ luật Hình sự năm 1999 của Việt Nam, “rửa tiền” được cụ thể hoá b ng tội danh “tội hợp pháp hoá tiền do phạm tội mà có” được quy định tại Điều 251 Bộ luật này. Và cho đến khi Nghị định số 74/2005/NĐ-CP được chính phủ ban hành thì thuật ngữ “rửa tiền” mới chính thức được sử dụng rộng rãi như hiện nay và sau này có sự điều chỉnh lại bởi Luật PCRT 2012.
Trên cơ sở khái quát quá trình ghi nhận thuật ngữ “rửa tiền” trong pháp luật Việt Nam có thể nhận thấy, tuy hoạt động rửa tiền giới hạn cụ thể trong 3 nhóm hành vi theo khoản 1 điều 4 Luật PCRT 2012, nhưng cũng phần nào thể 15 hiện r ng: pháp luật Việt Nam cũng đang từng bước hoàn thiện các quy định liên quan đến vấn đề này, để chuẩn bị cho tiến trình hội nhập sau đó. Cho đến ngày 27/11/2015, Bộ luật hình sự 2015 đã đ t nền móng hoàn thiện khung pháp lý đầu tiên với tội danh rửa tiền, điển hình được quy định tại điều 324 bộ luật này. Tuy nhiên tại Bộ luật hình sự 2015 lại không có quy định vấn đề hình sự hoá pháp pháp nhân và điều này đã được khắc phục ngay sau đó b ng Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ Luật hình sự 2015 ngày 20/06/2017. Theo đó một trong các điều kiện tiên quyết để xác định tội danh rửa tiền là: “có tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động giao dịch tài chính ngân hàng nhằm che giấu nguồn gốc bất hợp pháp của tiền, tài sản do mình phạm tội mà có hoặc biết hay có cơ sở để biết là do người khác phạm tội mà có”14.
Phương thức rửa tiền thông qua ngân hàng Rửa tiền qua hệ thống ngân hàng ngày càng trở nên phổ biến và được tội phạm sử dụng, đó chính là việc lợi dụng các khe hở trong quy định nội bộ của ngân hàng, để thực hiện những hành vi này. Một trong những tiêu chí để tội phạm sử dụng hệ thống ngân hàng như là một công cụ, để tẩy, rửa tiền là: nhanh chóng, tiện lợi và không để lại dấu vết. Ngoài ra, trên thế giới hiện nay, ngân hàng đã trở thành một hệ thống chuyển tiền phổ biến và thuận lợi, với phương thức chuyển tiền nhanh chóng, dễ dàng. Để thực hiện rửa tiền một cách thuận lợi, tội phạm thường hướng đến các ngân hàng có hệ thống PCRT sơ khai, chưa hoàn thiện.
Sau đây là một vài các giao dịch mà ngân hàng cần phải lưu ý: Các giao dịch đang bị điều tra hoặc khởi kiện: thường các giao dịch đang bị cơ quan có thẩm quyền điều tra là các giao dịch có khả năng cao liên quan đến các hoạt động tội phạm. Do đó cần phải lưu ý các loại giao dịch này. Các giao dịch đang bị khởi kiện, tội phạm thường hay sử dụng hệ thống toà án như là một công cụ, để công nhận các khoản tiền mà ch ng nhận được trong bản án là hoàn toàn hợp pháp. Do đó, đối với các điều tra liên quan đến việc khởi kiện của khách hàng, cũng là một trong những cơ sở xác định giao dịch có dấu hiệu rửa tiền.
14 Trích 1 phần Điểm a Khoản 1 Điều 324 Bộ luật hình sự 2015. 16 Các giao dịch kh ng mang tính lợi ích: chủ tài khoản thường xuyên chuyển tiền cho các tài khoản khác, và nhận lại những khoản tiền tương tự từ các cá nhân/ tổ chức khác. Số lượng thực hiện giao dịch trong ngày của các cá nhân này, thường rất lớn và khó nắm bắt theo dõi nguồn tiền từ các tài khoản.