CHƯƠNG I MỐI QUAN HỆ GIỮA THỊ TRUONG SUC LAO DONG VÀ LUẬT LAO ĐỘNG. I - THỊ TRỪƠNG SỨC LAO ĐỘNG, MỘT BỘ PHAN CUA NỀN KINH TẾ THỊ TRUONG. 1, Thi trừơng và kinh tế thi trừơng. Lịch sử loai ngừơi đã trải qua một số hình thức kinh tế cơ bản, khởi đầu là kinh tế tu nhiên.
Kinh tế tự nhiên là lọai hình kinh tế trong đó sản phẩm duoc sản xuất ra không phải để trao đổi kiếm lời mà để thỏa mãn những nhu cầu nội bộ, chủ yếu là những nhu cầu cá nhân ngừơi sản xuất. Ở thời kỳ này lao động mang tính cá nhân, đơn lẻ nên trình độ phân công lao động xã hội còn thấp. Trong quá trình phát triển tất yếu của sự phân công lao động và sản xuất dưới chủ nghĩa tư bản, kinh tế hàng hóa ra đời đối lập về bản chất với nền kinh tế tự nhiên nói trên. Khi kinh tế hàng hóa trở thành hình thức kinh tế phổ biến và chiếm địa vị thống trị thì tòan bộ họat động sản xuất trong xã hội chủ yếu để kiếm lời và hàng hóa sản xuất ra với mục đích để bán, để trao đổi.
Vì vậy, nền sản xuất hàng hóa cũng hình thành song song với sự hình thành và phát triển của địa điểm, không gian diễn ra sự trao đổi mua bán. Đó là thị trường. Song hiện nay, thị trừơng không chỉ đơn thuần là lĩnh vực trao đổi, chuyển dịch hàng hóa từ ngừơi sản xuất sang ngừơi tiêu dùng mà sự trao đổi đó phải duoc tổ chức theo các qui luật của lưu thông hang hóa và tiền tệ. Dứơi góc độ của kinh tế học, thị trừơng là sự thể hiện thu gọn của quá trình mà, thông qua đó, các quyết định của ngừơi tiêu dùng (tiêu dùng mặt hàng nào, mức độ, phẩm chất của nó .), ngừơi sản xuất (sản xuất cái gì, như thế nào .) và ngừơi công nhân (làm gi, cho ai, trong bao lâu .) đều duoc dung hòa bằng sự điều chỉnh của giá cả theo quy luật cung cầu.
Theo lý luận của chủ nghĩa Mác, thị trừơng là yếu tế gắn liền với nền sản xuất hàng hóa, song thị trừơng và kinh tế thi trừơng là hai khái niệm khác nhau. Nền kinh tế hàng hóa chỉ trở thành kinh tế thị trừơng khi các quan hệ kinh tế xã hội và các sản phẩm xã hội đều mang hình thái quan hệ hàng hóa - tiền tệ một cách căn bản, phổ biến và chiếm địa vị thống trị. Các quan hệ hàng hóa, tiền tệ thâm nhập vào tất cả các khâu, các lĩnh vực của nền kinh tế, thậm chí vào cả các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Như vậy, khái niệm kinh tế thị trừơng duoc sử dung để chỉ một nền kinh tế mà các yếu tố cơ bản của nó như vốn, sức lao động, hàng hóa, địch vụ, chất xám.
đều có giá và các qui luật của thị trừơng là yếu tố điều tiết các hoat động kinh tế. Đó là quá trình vận động vô cùng phức tạp của các quan hệ mua bán, cạnh tranh, hạn chế và kích thích, giải quyết các mâu thuẫn về khả năng cung cấp và nhu 6 cầu xã hội, về cơ cấu sản xuất, chi phí, giá cả. theo một cơ chế nhất định để đạt duoc và dung hòa các lợi ích kinh tế. Như vậy, kinh tế thị trừơng vừa là hình thức vận hành của nền kinh tế hàng hóa vừa là phương pháp quản lý kinh tế.
Còn thị trừơng là môi trừơng chuyển tải, môi trừơng thực hiện những họat động của kinh tế thị trừơng. Thực tế đã chứng minh rằng : do có qui luật giá trị và qui luật cung cầu tác động nên khi phát triển kinh tế thị trừơng các lọai hàng hóa, dịch vụ trên thị trừơng phong phú về chủng lọai, đảm bảo về chất lương, đáp ứng duoc mọi nhu cầu đa dang cua thị trừơng. Thêm nữa, dứơi su tác động của qui luật cạnh tranh, kinh tế thi trừơng đảm bao cho các họat động sản xuất kinh doanh ngày càng đạt duoc nang suất, chất lương và hiệu quả kinh tế cao, khuyên khích việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, ha giá thành sản phẩm. và từ đó thúc đầy kinh tế phát triển.
Đó là mặt mạnh, mặt tích cực của kinh tế thị trường. Song, bên cạnh mặt tích cực, kinh tế thị trường còn có mặt trái của nó. " Bàn tay vô hình” của thị trừơng mang tính tự phát cao và không phải bao giờ cũng tạo ra cơ cấu sản phẩm phù hợp với nhu cầu xã hội. Sự tự phát cua thị trừơng thừơng gay ra sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế và có thể có lãng phí trong các họat động kinh tế.
Sự vận động tự phát này cũng luôn chứa đựng các khả năng lạm phát, thất nghiệp, khủng hỏang, suy thóai, độc quyền. Hơn nữa, sự chênh lệch quá mức về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong kinh tế thị trừơng cũng tạo nên nhiều vấn đề xã hội phức tap, làm lu mờ sự công bang và tính nhân đạo xã hội. Vì vậy Dang ta đã chủ trương phát triển kinh tế thị trừơng kết hop đúng mức với vai trò quản lý Nhà nước và tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Tư tưởng này đã được thể hiện trong các văn kiện chủ yếu của Dang tại Dai hội VII và VIII.
Về cơ bản, chúng ta có thể hiểu Đảng và Nhà nứơc ta chủ trương phát triển nền kinh tế mở, có nhiều thành phần kinh tế cũng tham gia bình đẳng. Các họat động kinh tế diễn ra ditoi sự tác động của các qui luật khách quan trong thị trừơng và sự điều tiết của Nhà nứơc chủ yếu bằng pháp luật. Sự phát triển kinh tế trên cơ sở đảm bảo lợi ích của ngừơi sản xuất kinh doanh, ngừơi lao động ; gắn tăng trửơng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội ; đặt con ngừơi vào vi trí trung tâm của sự phát triển. Thực hiện chủ trương đó cũng có nghĩa là thừa nhận trong xã hội tồn tại nhiều loại hình thị trừơng tạo khả năng phát triển năng động cho các họat động kinh tế như thị trừơng hàng hóa, thị trừơng vốn, thi trừơng sức lao động.
Tinh đa dạng của thị trừơng phụ thuộc vào tính phức tạp và nang động của kinh tế thị trừơng. Nhìn dưới góc độ hoạt động sản xuất thì thi trừơng bao gồm hai loai cơ bản : thị trừơng hàng hóa, dịch vụ và thị trừơng các yếu tố sản xuất. Trong thị trừơng các yếu tố sản xuất lại bao gồm thị trừơng sức lao động, thị trừơng vốn công nghệ và thị trừơng tài nguyên. Trong đó, quan trọng nhất là thị trừơng sức lao động vì sức LD liên kết các yêu tố vốn, công nghệ, tài nguyên.
để tao ra sản phẩm hàng hoá va dịch vụ. 2- Thi trirong súc lao động. Muốn có thị trừơng sức lao động thì sức lao động phải duoc coi là hang hóa. Các Mác đã nêu ra hai điều kiện cơ ban để sức lao động trở thành hàng hóa, do là : Thứ nhất, ngừơi có sức lao động hòan tòan tự do về thân thể có nghĩa là ngừơi đó phải có quyền sở hữu sức lao động của mình và có quyền đem bán nó như một hàng hóa.
Nhu vậy, hàng hóa sức lao động không thể có duoc trong chế độ chiếm hữu nô lệ và chế độ phong kiến. Nó cũng không thể xuất hiện trong một nền kinh tế mệnh lệnh. Thứ hai, ngừơi có sức lao động không có tư liệu sản xuất để mưu sinh, do đó, họ buộc phải bán sức lao động của mình. Hai điều kiện trên đây xuất hiện ở giai đọan đầu của chủ nghĩa tư bản, trong nền kinh tế cạnh tranh tự đo.
Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển hơn thì điều kiên thứ hai có những thay đổi nhất định. Không phải chỉ những ngừơi mất hết tư liệu sản xuất hoặc hòan tòan không có tư liệu sản xuất mới bán sức lao động của mình. Hiện nay, với sự phát triển của nền kinh tế, năng suất lao động và kết quả lao động ngày càng cao. Ngừơi công nhân cũng có tài sản và trở thành chủ sở hữu nhỏ.
Họ có ba khả năng để lựa chọn : tự mình sản xuất kinh doanh theo qui mô nhỏ, đi làm thuê (bán sức lao động) hoặc vừa là cổ đông sở hữu một phần nhỏ các công ty vừa là ngừơi làm thuê. Trong điều kiện của một nền sản xuất nhỏ, sự lựa chọn thứ nhất có khả năng mang lại hiệu quả vì sản xuất xã hội chưa phát triển, kinh tế thị trừơng chưa ổn định thì kinh doanh theo qui mô nhỏ duoc chấp nhận như là một mô hình phù hợp bởi nó dé thay đổi dễ thích nghĩ với sự biến động của thị trừơng. Song trong trừơng hợp không biết kinh doanh, kinh doanh không có lợi bằng đi làm thuê, hoặc trong điều kiện sản xuất lớn, qui luật lợi ích không cho phép ngừơi lao động tiến hành sản xuất kinh doanh bằng số tài sản ít di của mình, không đủ sức cạnh tranh trên thị trừơng thì họ sẽ lựa chọn khả năng thứ hai hoặc thứ ba để có thu nhập cao hơn. Như vậy, ở thời hiện đại ngòai điều kiện ngừơi lao động có quyền tự do bán sức lao động của mình.
để sức lao động trở thành hàng hóa, còn phải có thêm điều kiện ngừơi lao động vì một lý do nào đó họ có nhu cau bán sức lao động của mình. Hàng hóa sức lao động là một khái niệm thông dung trong kinh tế học và duoc sử dụng rộng rãi trong những nước có nền kinh tế thi trừơng. Khái niệm này không thể có trong nền kinh tê tự nhiên và ngay ca ở những nứơc có nền kinh tế tập trung cũng không thừa nhận sức lao động là hàng hóa. Trứợc đây, một thời gian dai do suy nghĩ bất cập, chúng ta từng quan niệm rằng hàng hóa sức lao động là một phạm trù riêng có của chủ nghĩa tu bản.
Dứơi chu nghia tư bản, ngừơi công nhân không có tư liệu sản xuất nên họ buộc phải bán sức lao động cho chủ tư bản để duy trì cuộc sống. Vì vậy, sự thuê mứơn (bán sức lao động) chỉ là hình thức và nó đồng nghĩa với bóc lột. Va lại, về mặt lý luận, chủ nghĩa xã hội duoc xây dựng trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất ; ngừơi lao động vừa là chủ sở hữu tư liệu sản xuất vừa là ngừơi lao động vì thế họ là các lao động tự nguyện cùng hợp tác với nhau và với các công chức quản lý để thực hiện nhiệm vụ chung dứơi sự quản lý của Nhà nứơc.