Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách Nhà nước 2 Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách Nhà nước của thành phố Hà Tĩnh Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản của thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh 3 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ XÂY DỰNG CƠ BẢN NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm về đầu tƣ và dự án đầu tƣ xây dựng cơ bản 1. Khái niệm về đầu tư, đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư là một phạm trù đặc biệt đối với phạm trù kinh tế - xã hội của đất nước. Cho đến nay, có khá nhiều khái niệm khác nhau về đầu tư.
Các khái niệm này có thể đứng ở góc độ khác nhau với các cách tiếp cận khác nhau nên để phát biểu cụ thể cũng không hoàn toàn giống với nhau. Có nhiều cách hiểu về khái niệm này, theo nghĩa rộng nhất, có thể hiểu là quá trình bỏ vốn, bao gồm cả tiền, nguồn lực và công nghệ để đạt được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Trong hoạt động kinh tế, đầu tư mang bản chất kinh tế, đó là quá trình bỏ vốn vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận. Đồng thời, có thể hiểu đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian xác định nhằm đạt được kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định (Từ Quang Phương - Giáo trình Kinh tế Đầu tư 2012).
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005: Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung. Đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản, từ việc khảo sát quy hoạch đầu tư, thiết kế và sử dụng cho đến khi lắp đặt thiết bị hoàn thiện việc tạo ra cơ sở vật chất, nhằm tái sản xuất giản đơn và tái xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Đầu tư xây dựng cơ bản đã tạo ra nhiều công trình, nhà máy, đường giao thông. quan trọng, đưa lại nhiều lợi ích kinh tế - xã hội thiết thực. Khái niệm về dự án đầu tư, dự án đầu tư xây dựng cơ bản Hiện nay, có nhiều cách diễn giải khác nhau về khái niệm dự án đầu tư, mỗi cách diễn giải đều dựa trên những cách thức tiếp cận khác nhau của các nhà nghiên cứu. Tuy giữa các cách gọi có sự khác nhau về mặt ngôn từ nhưng xét cho cùng thì đều hướng đến một nội dung nhất quán, đó là cái được đề cập để làm rõ là nội hàm của thuật ngữ dự án.
Nếu xét về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Nếu xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định. Nếu xét trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài. Học viên: Đinh Nho Phú MSV: CQ150329 5 Theo Khoản 2 Điều 3 Luật Đầu tư số 67/2014/QH13, ngày 26/11/2014 quy định: Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định.
Theo Khoản 15 Điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13, ngày 18/6/2014 quy định: Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Từ đó khái niệm dự án đầu tư xây dựng cơ bản có thể được hiểu như sau: Dự án đầu tư xây dựng cơ bản là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo những công trình, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội với mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ công trong một thời hạn và chi phí nhất định nhằm phát triển kinh tế - xã hội. Các đặc trưng cơ bản của một dự án đầu tư - Dự án có mục đích, kết quả xác định. Điều này có thể hiện tất cả các dự án đều phải có kết quả được xác định rõ.
Kết quả này có thể là một toà nhà, một con đường, một dây chuyền sản xuất… Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiệm vụ cần thực hiện. Mỗi nhiệm vụ lại có kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án. - Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn.
Dự án là một sự sáng tạo, dự án không kéo dài mãi mãi. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quản lý dự án giải tán. - Dự án có sự tham gia của nhiều bên như: Chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan cung cấp dịch vụ trong đầu tư, cơ quan quản lý Nhà nước. Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng từ dự án, các nhà Tư vấn.
Nhà thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước. Tuỳ theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau. - Sản phẩm dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo. Kết quả của dự án có tính khác biệt cao, sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất.
- Môi trường hoạt động “va chạm” quan hệ giữa các dự án là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức. Dự án “cạnh tranh” lẫn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị…Trong quản lý, nhiều trường hợp, các thành viên ban quản lý dự án lại có “hai thủ trưởng” nên không biết phải thực hiện mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp nào nếu hai lệnh lại mâu thuẫn nhau… do đó, môi trường quản lý dự án có nhiều quan hệ phức tạp nhưng năng động. - Dự án có tính bất định và độ rủi ro cao, do đặc điểm mang tính dài hạn của hoạt động đầu tư phát triển. Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thục hiện trong một khoảng thời gian nhất định.
Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư thường có độ rủi ro cao. Phân loại dự án đầu tư Để thuận tiện cho việc theo dõi, quản lí và đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư, cần tiến hành phân loại các dự án đầu tư. Có thể phân loại các dự án đầu tư theo các tiêu thức sau: Học viên: Đinh Nho Phú MSV: CQ150329 6 * Phân loại theo mức độ quan trọng quy mô dự án (được quy định tại các điều 7, 8, 9 và 10 của Luật Đầu tư công 2014) - Dự án quan trọng quốc gia: Là dự án đầu tư độc lập hoặc cụm công trình liên kết chặt chẽ với nhau thuộc một trong các tiêu chí dưới đây: + Sử dụng vốn đầu tư công từ 10.000 tỷ đồng trở lên; + Ảnh hưởng lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn khả năng ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, bao gồm: Nhà máy điện hạt nhân; sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan, khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng hộ đầu nguồn từ 50 héc ta trở lên; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, chắn sóng, lấn biển, bảo vệ môi trường từ 500 héc ta trở lên; rừng sản xuất từ 1.000 héc ta trở lên; + Sử dụng đất có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa nước từ hai vụ trở lên với quy mô từ 500 héc ta trở lên; + Di dân tái định cư từ 20.000 người trở lên ở miền núi, từ 50.000 người trở lên ở các vùng khác; + Dự án đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định. - Dự án nhóm A: Trừ các dự án quan trọng quốc gia quy định tại Điều 7 của Luật Đầu tư công 2014, các dự án thuộc một trong các tiêu chí dưới đây là dự án nhóm A: + Dự án không phân biệt tổng mức đầu tư thuộc một trong các trường hợp sau đây: Dự án tại địa bàn có di tích quốc gia đặc biệt; dự án tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh; dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ quốc phòng, an ninh có tính chất bảo mật quốc gia; dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ; dự án hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất.
+ Dự án có tổng mức đầu tư từ 2.