Chương 1. Cơ sở lý luận của luận văn. Kết quả phân tích và điều tra. Giải pháp hoàn thiện.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA LUẬN VAN ----000---- 1. Cac khai niém 1. Khoa học và nghiên cứu khoa học (1) Khoa hoc (science): Hiện nay co rat nhiêu cách hiệu và khái niệm vê khoa hoc xuât phat từ nhiêu cách tiếp cận khác nhau: a) Khoa học là một hệ thống tri thức: - “Khoa học là hệ thống trị thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy”.17-19] - “Khoa hoc là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới,. về tự nhiên và xã hội.
Những kiến thức hay học thuyết mới nay, tốt hơn, có thé thay thé dan những cdi cũ, không còn phù hop. Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận động cua vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy. Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học.
+ Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong moi quan hệ giữa con người voi con người và giữa con người với thiên nhiên. Quá trình nay giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người.
Vi vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành trì thức khoa học. 15 + Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thong nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các họat động nầy có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học. Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngdu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa hoc được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh hoc.1] b) Khoa học là một hoạt động xã hội: “Ngày nay khoa học đã trở thành một hoạt động nghề nghiệp được xã hội hóa cao độ.
Đó là một dạng hoạt động xã hội đặc biệt, hướng vào việc tim kiếm những điều chưa biết, là một loại lao động gian khổ nhiều rủi ro. Với tu cách là một hoạt động xã hội, khoa học hướng tới những mục tiêu sau: - Phát hiện bản chất các sự vật, phát triển nhận thức về thế giới. - Dựa vào quy luật đã nhận biết của sự vật mà dự báo quả trình phát triển của sự vat, lụa chọn hướng di cho mình dé tranh hoặc giảm thiêu các rủi ro. - Sáng tạo các sự vật mới phục vụ những mục tiêu tôn tại và phát triển bản thân con người và xã hội của con người.
14] c) Khoa học là một hình thái ý thức xã hội: “Triết học xem khoa học là một hình thaiy thức xã hội. Voi tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tôn tại mang tính độc lập tương đổi với các hình thái ý thức xã hội khác. Khoa học phân biệt với các hình thai y thức xã hội khác ở đối tượng và hình thức phản anh và mang một chức năng xã hội riêng biệt. Đây là một nhận thức có ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận nghiên cứu khoa học, trong việc xử lý mối quan hệ phức tạp giữa khoa học với các hình thai y thức xã hội khác nhau.15] d) Khoa học là một thiết chế xã hội: 16 “Khoa học có thể sẽ là một thiết chế xã hội có ý nghĩa nhất trong xã hội hiện đại.
Thiết chế ấy đang làm biến đổi đời sống và số phận con người trên thể giới này hơn bắt kỳ một sự kiện chính trị hoặc tôn giáo nào.1-28] Với tư cách là một thiết chế xã hội, khoa học đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động xã hội và thực hiện những chức năng của một thiết chế xã hội, đó là: - Định ra một khuôn mẫu hành vi, lấy tinh khoa học làm thước do, chẳng hạn tác phong làm việc khoa học, tổ chức lao động theo khoa học. - Xây dựng luận cứ khoa học cho các quyết định trong sản xuất, kinh doanh, tổ chức xã hội. - Tăng hàm lượng khoa học trong công nghệ và sản phẩm nhằm tạo thế mạnh cạnh tranh cho sản phẩm. - Khoa học ngày càng trở thành một phương tiện góp phan làm biến đổi tận gốc ré mọi mặt của đời sống xã hội.18] (2) Nghiên cứu khoa hoc (scientific research) a) “Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thé giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới dé làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người.
Về mặt thao tác có thé định nghĩa nghiên cứu khoa hoc là quá trình hình thành và chứng mình luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng can khám pha.35] b) “Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những sỐ liệu, tài liệu, kiến thức,. đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cải mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cdi chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngôi trên ghế nhà trường.1] c) Dinh Tuấn Hải, Trường Đại Học Quốc Gia Yokohama, cho rằng: “Hiện nay, trong giới học thuật van có tranh luận và chưa thống nhất về việc xác định thế nào là 17 một nghiên cứu khoa học.
Việc xác định rõ định nghĩa này là rất quan trọng đối với những người mới bắt dau sự nghiệp nghiên cứu, đặc biệt là sinh viên. Mọi người déu nói về cái “mới”, rang phải nghiên cứu một vấn dé mới thì mới đúng là một nghiên cứu khoa học. Nếu như vậy thì sẽ có câu hỏi được đặt ra là: Làm một van dé cũ thì sao và thế nào là một vấn đề mới?” Ông nhận thấy có rất nhiều nghiên cứu về một vấn đề cũ nhưng vẫn có giá trị, được áp dụng tốt trong thực tế sản xuất và được chấp nhận đăng trên nhiều tạp chí và hội thảo khoa học quốc tế. Trong khi đó có nhiều nghiên cứu tự nhận là cho những vấn đề mới nhưng lại không thu hút được quan tâm của mọi người và thường kết thúc trong im lặng.
Có nhiều nguyên nhân cho sự thất bại của các nghiên cứu được cho là có chủ đề mới, hoặc là vấn đề mới nhưng không có giá trị thực tế nên rất ít người muốn nghiên cứu, hoặc cái mới này chỉ có thể áp dụng sau nhiều năm nữa nên hiện tại không ai quan tâm, hoặc vấn đề mới quá khó hiểu đối với đồng nghiệp, hoặc dẫu là mới nhưng kết quả nghiên cứu không đạt yêu cầu, v. Ông đã đưa ra một số tiêu chí cụ thể để có một định nghĩa sơ lược thế nào là một nghiên cứu khoa học. Vậy một nghiên cứu khoa học cần đáp ứng ít nhất một trong các yêu cầu dưới đây: - Phát hiện điều mới trong các quy luật và đặc tính của tự nhiên hoặc của xã hội. - So sách giữa hai hoặc nhiêu hiện tượng của tự nhiên hoặc của xã hội đê chỉ ra sự giông nhau và khác nhau giữa chúng.
- Tìm kiếm phương pháp dé giải quyết các khó khăn, trục trac dang cản trở sự phát triên của tự nhiên và xã hội. - Thay đôi hoặc lợi dụng các hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội dé phuc vu tốt hon cho con người va môi trường xung quanh. - Nghiên cứu các hiện tượng, công việc đã xảy ra, thực hiện trong quá khứ dé rút ra bai học cho hiện tai và tương lai. - Dự đoán tương lai dé có các hành động phù hợp trong hiện tại.
18 d) Luật Khoa học và Công nghệ định nghĩa: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tu đuy; sang tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. ” e) Nghiên cứu khoa học được phân loại theo các giai đoạn nghiên cứu, bao gồm các hoạt động theo hình 1. Nghiên cứu Nghiên cứu cơ cơ bản bản thuân túy img dung Tao vat mau (Prototype) Luu ý: 3. Trién khai Tao quytrinh | Trién khai = thực nghiệm s/x vật mau Technological - Experimental San xuat thử Development, goi Série N° 0 tat la Development Hình 1.1: Các giai đoạn nghiên cứu /2, tr.
Đề tài nghiên cứu khoa học (1) Đề tài: Theo giáo trình phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Vũ Cao Đàm, đề tài là một hình thức tô chức nghiên cứu khoa học, trong đó có một người hoặc một nhóm người cùng thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu. Đề tài được lựa chọn từ một sự kiện khoa học. Đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học do một người hoặc một nhóm người thực hiện. Một số hình thức tô chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu khoa hoc, chăng hạn như: Chương trình, dự án, dé án.
Sự khác biệt giữa các hình thức nghiên cứu khoa học nay như sau: 19 - Đề tài: được thực hiện dé trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể chưa dé ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế. - Dự án: được thực hiện nhăm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thê hiệu quả về kinh tê và xã hội. Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian và nguôn lực. - Đề án: là loại văn kiện, được xây dựng đề trình cấp quản lý cao hơn, hoặc gởi cho một cơ quan tải trợ để xin thực hiện một công việc nào đó như: thành lập một tô chức; tài trợ cho một hoạt động xã hội, .