CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KIỂM TOÁN NỘI BỘ 1. Khái niệm, mục tiêu và chức năng của kiểm toán nội bộ 1. Khái niệm về kiểm toán nội bộ Thuật ngữ kiểm toán nội bộ được ra đời và sử dụng rộng rãi ở những nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ hay Pháp từ những năm của thế kỷ thứ 19; tuy nhiên nó chỉ thực sự được công nhận như một nghề nghiệp hiện đại trong khoảng 70 năm trở lại đây.
Ban đầu công tác kiểm toán nội bộ chỉ nhấn mạnh vào quản trị tài vụ; tuy nhiên do đòi hỏi cũng như sự phát triển của quản trị doanh nghiệp, khái niệm về kiểm toán nội bộ cũng được thay đổi và chỉnh sửa để phù hợp. Hiện nay, có khá nhiều quan niệm khác nhau về kiểm toán nội bộ có thể kể đến như sau: Theo liên đoàn kế toán quốc tế IFAC: “Kiểm toán nội bộ là một hoạt động đánh giá được lập ra trong doanh nghiệp như là một loại hình dịch vụ cho doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát tính thích hợp, hiệu quả của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”. Với khái niệm này, kiểm toán nội bộ mới dừng lại ở công tác kiểm tra, đánh giá và giám sát cho doanh nghiệp, chưa đề cập tới chức năng vô cùng quan trọng của kiểm toán nội bộ là tư vấn. Hơn thế nữa mối quan hệ giữa nhu cầu quản trị rủi ro của doanh nghiệp và kiểm toán nội bộ cũng chưa được đề cập.
Ngoài định nghĩa nêu trên, năm 1947, Viện kiểm toán nội bộ (IIA) đã đưa ra khái niệm về KTNB là “hoạt động đánh giá độc lập trong một tổ chức về công tác kế toán, tài chính và các công tác khác của tổ chức đó. Hoạt động KTNB được xem như là các dịch vụ mang tính bảo vệ và xây dựng hỗ trợ cho ban giám đốc”. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển và tính phức tạp của các hoạt động doanh nghiệp, khái niệm về KTNB đã được định nghĩa theo một cái nhìn mới. Cụ thể vào tháng 6/1999, IIA đã đưa ra một khái niệm khác hoàn chỉnh và bám sát với công việc của KTNB: “KTNB là hoạt động đảm bảo và tư vấn mang tính độc lập, khách quan được thiếp 7 lập nhằm tạo ra giá trị gia tăng và cải thiện hoạt động của một tổ chức.
KTNB giúp cho tổ chức đạt được các mục tiêu của mình thông qua việc tạo ra một cách tiếp cận có hệ thống, có tính kỷ luật để đánh giá, nâng cao hiệu quả của quy trình quản trị doanh nghiệp, quy trình kiểm soát và việc quản lý rủi ro”. Từ những định nghĩa trên, ta có hiểu KTNB là một công việc mang những đặc tính nổi bật sau: Đầu tiên, KTNB có thể là một bộ phận của tổ chức hoặc thuê ngoài; tuy nhiên KTNB hoạt động nhằm tạo giá trị gia tăng cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu. Chính đặc điểm này đã nêu bật sự khác biệt về hình thức, nội dung cũng như mục đích hoạt động của KTNB so với kiểm toán độc lập bên ngoài. KTNB có những chuẩn mực chuyên nghiệp và hành động một cách có hệ thống, kỷ luật nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Hơn thế nữa, KTNB góp phần cải thiện quy trình quản trị, kiểm soát và quản lý rủi ro. Tiếp đó, KTNB phải đảm bảo tính độc lập. KTNB đứng ngoài các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để có cái nhìn khách quan và sự tư vấn phù hợp nhất. Cuối cùng, hoạt động của KTNB có 2 mảng lớn là xác nhận và tư vấn.
Dịch vụ xác nhận là việc mà KTNB sẽ đưa ra đánh giá khách quan của mình thông qua các bằng chứng thu thập được; qua đó sẽ đề xuất ý kiến hay các kết luận độc lập về một quy trình, một hệ thống hay một vấn đề. Công tác tư vấn là việc KTNB sẽ dựa trên những kết quả thu thập được, đưa ra những tư vấn để trợ giúp doanh nghiệp đạt được nhưng mục tiêu như: tăng cường đạo đức và các giá trị cốt lõi của doanh nghiệp, đảm bảo hoạt động của tổ chức hiệu quả và minh bạch, truyền thông hiệu quả về rủi ro và kiểm soát tới các bộ phận thích hợp trong tổ chức…. Mục tiêu và chức năng của kiểm toán nội bộ Mục tiêu theo góc nhìn kinh tế có thể hiểu là kết quả mà những nhà quản trị muốn đạt được trong tương lai cho tổ chức của họ. Đối với hoạt động KTNB, mục tiêu của bộ phận này trong tổ chức có thể tóm gọn như sau: - Giúp HĐQT, BLĐ ngân hàng thực hiện chức năng giám sát của mình đối với quy trình báo cáo thông tin tài chính, phi tài chính nhằm đảm bảo rằng các thông tin được công bố là trung thực, rõ ràng và không bị lạm dụng; 8 - Đánh giá tính hiệu quả của hệ thống quản lý rủi ro, hệ thống kiểm soát tài chính nội bộ.
Phát hiện và chỉ ra nguyên nhân của những sơ hở, yếu kém trong hoạt động từ đó đề xuất và tư vấn với HĐQT, BLĐ các biện pháp, giải pháp để cải tiến; - Giúp nâng cao vị thế của ngân hàng thông qua việc hoàn thiện môi trường quản lý rủi ro và hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng. Kiểm toán nội bộ thực hiện 5 chức năng chính là: kiểm tra, đánh giá, xác nhận, tư vấn và đào tạo. Trong đó có thể đánh giá chức năng xác nhận và tư vấn là hai chức năng quan trọng nhất của KTNB. KTNB thông qua việc kiểm tra, đánh giá sẽ xác nhận thực trạng của thông tin đã kiểm tra về tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các thông tin đó.
Trên cơ sở những phát hiện trong quá trình kiểm tra, đánh giá; KTNB sẽ đề xuất và tư vấn những giải pháp để khắc phục sai sót, cải thiện hệ thống KSNB, giúp tổ chức đạt được mục tiêu của mình. Quy tắc đạo đức của kiểm toán nội bộ Theo IIA [17], các quy tắc đạo đức cơ bản và cần thiết cho các kiểm toán viên khi hành nghề bao gồm: - Tính chính trực: Kiểm toán viên khi hành nghề cần làm việc với sự trung thực, cẩn thận và trách nhiệm cao. Mỗi hành động đều phải tuân thủ theo hiến pháp, luật phát và các quy định nghề nghiệp. Hơn thế nữa, mỗi kiểm toán viên cần góp sức cho các mục tiêu đạo đức và hợp pháp của tổ chức; - Tính khách quan: Khi tiến hành công việc của mình, kiểm toán viên phải đánh giá chuẩn xác và công minh các thông tin và quy trình; không được để lợi ích cá nhân hoặc nhóm làm ảnh hưởng đến tính chất khách quan của các đánh giá.
Khi công bố báo cáo, kiểm toán viên cần nghiêm túc công bố đầy đủ và chính xác các sự kiện trọng yếu,quan trọng, có khả năng gây hậu quả cho doanh nghiệp; - Tính bảo mật: Kiểm toán viên phải sử dụng thận trọng và đúng pháp luật các thông tin được kiểm toán; - Tính chuyên môn: Các kiểm toán viên phải đảm bảo có kiến thức, kỹ năng và kỷ luật cần thiết để thực hiện công việc kiểm toán và tư vấn một cách có hiệu quả. Hơn thế nữa, kiểm toán viên cần tuân thủ với các chuẩn mực về hành vi cũng như duy trì năng lựa chuyên môn thông qua việc tham gia các khóa đào tạo.KIỂM TOÁN NỘI BỘ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Những đặc thù trong kinh doanh ngân hàng Ngày nay, hệ thống các ngân hàng được ví như là “huyết mạch” của một nền kinh tế. Hoạt động của các ngân hàng giúp cho các nguồn lực tài chính được luân chuyển và sử dụng hiệu quả, kích thích và giữ ổn định nền kinh tế quốc gia.
Tuy nhiên trong nền kinh tế thị trường thì hoạt động kinh doanh ngân hàng với tư cách là một ngành nghề đặc thù lại luôn phải đối mặt với các rủi ro, đặc biệt các rủi ro này khi xảy ra có thể gây phản ứng dây chuyền và hậu quả khó lường. Trong bài khoá luận này, sinh viên thực hiện nhìn nhận rủi ro dưới giác độ rủi ro không chỉ bao gồm những khả năng xấu có thể xảy ra mà còn là khả năng tốt, các cơ hội có thể diễn ra, hoặc khả năng kết quả thực tế không giống với những gì mong đợi và bất kỳ điều gì có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu của ngân hàng. Những rủi ro đặc thù mà ngân hàng phải đối mặt là: - Rủi ro tín dụng: là rủi ro do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết; - Rủi ro thanh khoản: là khả năng ngân hàng không đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính một cách tức thời hoặc phải huy động vốn bổ sung với chi phí cao hoặc phải bán tài sản với giá thấp; - Rủi ro lãi suất: là rủi ro phát sinh khi kỳ hạn đến hạn của tài sản có không cân xứng với kỳ hạn đến hạn của tài sản nợ; - Rủi ro tỷ giá: là rủi ro phát sinh khi có sự biến động về tỷ giá do có sự biến động giữa các đồng tiền; thu nhập từ hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài không tương quan hoàn hảo với nhau; - Rủi ro hoạt động ngoại bảng: các ngân hàng ngày càng phát triển các hoạt động ngoại bảng như: hợp đồng thư tín dụng, các hợp đồng phái sinh … do ngân hàng thu được phí trong khi không phải sử dụng vốn kinh doanh.Tuy nhiên nếu công tác quản trị không hiệu quả hoặc không đánh giá đúng tính chất của hoạt động ngoại bảng thì ngân hàng có thể phải đối mặt với những rủi ro rất lớn; - Rủi ro hoạt động: là rủi ro do các quy trình nội bộ quy định không đầy đủ 10 hoặc có sai sót, do con người, do các hệ thống hoặc do các yếu tố bên ngoài; - Rủi ro khác: hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng có thể đối mặt với các rủi ro như: rủi ro quốc gia, rủi ro danh tiếng, rủi ro chiến lược hoặc rủi ro tập trung. Mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại Vị trí của bộ phận Kiểm toán nội bộ trong ngân hàng thương mại là một vấn đề có sức ảnh hưởng to lớn, bao trùm lên cả tổ chức bộ máy và hoạt động của KTNB.