Chương 1: Lý luận cơ bản về kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần đầu tư tài chính bảo hiểm dầu khí. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại Công ty cổ phần đầu tư tài chính bảo hiểm dầu khí. Sinh viên thực hiện: Trần Thị Hoài Lớp KTDNE – K12 Khóa luận tốt nghiệp 4 GVHD: Th.S Lê Minh Phương CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN TIỀN LƢƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƢƠNG TRONG DOANH NGHIỆP.
Tổng quan về tiền lƣơng và các khoản trích theo lƣơng trong doanh nghiệp. Những vấn đề cơ bản về tiền lương. Khái niệm, bản chất và chức năng của tiền lương. Khái niệm tiền lương Sự phức tạp về tiền lƣơng đã thể hiện ngay trong quan điểm triết lý về tiền lƣơng.
Trên thực tế, khái niệm về tiền lƣơng ở mỗi nƣớc có sự khác nhau. Ở Pháp, “Sự trả công đƣợc hiểu là tiền lƣơng, hoặc lƣơng bổng cơ bản, bình thƣờng hay tối thiểu và mọi thứ lợi ích, đƣợc trả trực tiếp hay gián tiếp bằng tiền hay hiện vật, mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động theo việc làm của ngƣời lao động”. Ở Nhật Bản: Tiền lƣơng là thù lao bằng tiền mặt và hiện vật trả cho ngƣời làm công một cách đều đặn, cho thời gian làm việc hoặc cho lao động thực tế, cùng với thù lao cho khoảng thời gian không làm việc, nhƣ là nghỉ mát hàng năm, các ngày nghỉ có hƣởng lƣơng hoặc nghỉ lễ. Tiền lƣơng không tính đến những đóng góp của ngƣời thuê lao động đối với bảo hiểm xã hội và quỹ hƣu trí cho ngƣời lao động và phúc lợi mà ngƣời lao động đƣợc hƣởng nhờ có những chính sách này.
Khoản tiền đƣợc trả khi nghỉ việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động cũng không đƣợc coi là tiền lƣơng. Theo điều 1 của công ƣớc số 95 về bảo vệ tiền lƣơng ngày 01 tháng 07 năm 1949 của Tổ chức lao động Quốc tế, tiền lƣơng là sự trả công hoặc thu nhập, hay bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền hay đƣợc ấn định bằng thỏa thuận giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động, hoặc bằng pháp luật quốc gia, do ngƣời sử dụng lao động phải trả cho ngƣời lao động theo hợp đồng thuê mƣớn lao động, bằng viết hoặc bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hay sẽ thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm. Sinh viên thực hiện: Trần Thị Hoài Lớp KTDNE – K12 Khóa luận tốt nghiệp 5 GVHD: Th.S Lê Minh Phương Còn tại Việt Nam, theo khoản 1 điều 90 Bộ luật lao động năm 2012, tiền lƣơng là khoản tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lƣơng bao gồm mức lƣơng theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lƣơng và các khoản bổ sung khác.
Mức lƣơng của ngƣời lao động không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu do Chính phủ quy định. Nhìn chung, tiền lƣơng là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động đƣợc hình thành thông qua sự thỏa thuận hợp pháp giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động và do ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động. Để tìm hiểu rõ hơn về khái niệm tiền lƣơng, ta đi tìm hiểu thêm về một số loại tiền lƣơng nhƣ tiền lƣơng danh nghĩa, tiền lƣơng thực tế, tiền lƣơng tối thiểu. Tiền lƣơng danh nghĩa: là khái niệm chỉ số lƣợng tiền tệ mà ngƣời sử dụng sức lao động căn cứ vào hợp đồng thoả thuận giữa hai bên trong việc thuê lao động.
Trên thực tế, mọi mức lƣơng trả cho ngƣời lao động đều là lƣơng danh nghĩa. Song bản thân tiền lƣơng danh nghĩa lại chƣa có thể cho ta một nhận thức đầy đủ về mức tiền công thực tế cho ngƣời lao động. Lợi ích mà ngƣời cung ứng sức lao động nhận đựơc ngoài việc phụ thuộc vào mức lƣơng danh nghĩa còn phụ thuộc vào giá cả hàng hoá, dịch vụ và số lƣợng mà ngƣời lao động sử dụng tiền lƣơng đó để mua sắm hoặc đóng thuế. Tiền lƣơng thực tế: là số lƣợng tƣ liệu sinh hoạt và dịch vụ sinh hoạt và dịch vụ ngƣời lao động có thể mua đƣợc bằng tiền lƣơng của mình, sau khi đã đóng chƣơng khoản thuế theo quy định của Chính phủ.
Ta có công thức sau: ILDN ILTT= Ig Trong đó: ILTT là chỉ số tiền lƣơng thực tế. ILDN là chỉ số lƣơng danh nghĩa IG là chỉ số giá cả. Sinh viên thực hiện: Trần Thị Hoài Lớp KTDNE – K12 Khóa luận tốt nghiệp 6 GVHD: Th.S Lê Minh Phương Với mức tiền lƣơng nhất định, nếu giá cả hàng hoá thị trƣờng tăng thì chỉ số tiền lƣơng thực tế giảm và ngƣợc lại. Trƣờng hợp giá cả ổn định, tiền lƣơng danh nghĩa tăng lên, chỉ số tiền lƣơng thực tế cũng tăng.
Nếu cùng một lúc tiền lƣơng danh nghĩa và giá cả hàng hoá thị trƣờng cùng tăng hoặc cùng giảm, thì đại lƣợng nào có tốc độ tăng giảm lớn hơn sẽ quyết định chỉ số tiền lƣơng thực tế. Đối với ngƣời lao động lợi ích và mục đích cuối cùng của việc cung ứng sức lao động là tiền lƣơng thực tế chứ không phải tiền lƣơng danh nghĩa,vì tiền lƣơng thực tế quyết định khả năng tái sản xuất sức lao động quyết định các lợi ích trực tiếp của họ. Theo điều 91 Bộ luật lao động ban hành năm 2012, Mức lƣơng tối thiểu là mức thấp nhất trả cho ngƣời lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thƣờng và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của ngƣời lao động và gia đình họ. Mức lƣơng tối thiểu đƣợc xác định theo tháng, ngày, giờ và đƣợc xác lập theo vùng, ngành.
Căn cứ vào nhu cầu sống tối thiểu của ngƣời lao động và gia đình họ, điều kiện kinh tế - xã hội và mức tiền lƣơng trên thị trƣờng lao động, Chính phủ công bố mức lƣơng tối thiểu vùng trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lƣơng quốc gia. Mức lƣơng tối thiểu ngành đƣợc xác định thông qua thƣơng lƣợng tập thể ngành, đƣợc ghi trong thỏa ƣớc lao động tập thể ngành nhƣng không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu vùng do Chính phủ công bố. Bản chất tiền lương. Nhƣ đề cập ở trên, tiền lƣơng thực chất là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động, là giá của yếu tố sức lao động, tiền lƣơng tuân theo nguyên tắc cung cầu của thị trƣờng và pháp luật hiện hành của Nhà nƣớc.
Tiền lƣơng chính là nhân tố thúc đẩy năng suất lao động, là đòn bẩy khuyến khích tinh thần hăng hái lao động. Đối với chủ doanh nghiệp, tiền lƣơng là một yếu tố của chi phí đầu vào sản xuất. Vì vậy mà các doanh nghiệp luôn chú ý tính toán và quản lý chặt chẽ tiền lƣơng để giảm chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Còn đối với ngƣời lao động thì tiền lƣơng lại là nguồn thu nhập chủ yếu của họ, nói cách khác thì tiền lƣơng là động lực là cuộc sống của ngƣời lao động.
Do vậy, ngƣời lao động luôn Sinh viên thực hiện: Trần Thị Hoài Lớp KTDNE – K12 Khóa luận tốt nghiệp 7 GVHD: Th.S Lê Minh Phương muốn đƣợc trả với mức lƣơng cao. Trong một mối quan hệ nhƣ vậy thì doanh nghiệp cần phải tính toán, đƣa ra các chính sách làm sao để giảm thiểu đƣợc chi phí tiền lƣơng mà vẫn thu đƣợc mức lợi nhuận nhƣ mong muốn. Chức năng của tiền lương Đối với ngƣời lao động. Tiền lƣơng là bộ phận chủ yếu của thu nhập, là nguồn để tái sản xuất sức lao động.
Do vậy tiền lƣơng là động lực kinh tế thúc đẩy ngƣời lao động quan tâm đến công việc của họ. Trả đúng, trả đủ tiền lƣơng cho ngƣời lao động sẽ khuyến khích họ quan tâm đến hoạt động và gắn bó với công việc mà họ đảm nhiệm. Đối với ngƣời sử dụng lao động. Tiền lƣơng là thƣớc đo giá trị.
Tiền lƣơng biểu thị giá cả sức lao động nên có thể nói là thƣớc đo giá trị của sức lao động. Và tiền lƣơng cũng là một cách để các doanh nghiệp lƣợng hóa giá trị sức lao động của ngƣời lao động và chi phí của doanh nghiệp để xác định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tiền lƣơng có ý nghĩa quan trọng trong quản lý lao động. Doanh nghiệp trả lƣơng cho ngƣời lao động không chỉ bù đắp sức lao động đã hao phí mà còn thông qua đó để kiểm tra giám sát ngƣời lao động làm việc theo mục tiêu, kế hoạch của doanh nghiệp đảm bảo công việc hoàn thành.
Đối với Nhà nƣớc. Tiền lƣơng là công cụ quản lý của Nhà nƣớc. Trong thực tế, các doanh nghiệp luôn muốn đạt mục tiêu giảm tối đa chi phí sản xuất còn ngƣời lao động thì lại mong muốn đƣợc trả lƣơng cao để tái sản xuất sức lao động. Vì vậy, Nhà nƣớc đã phải xây dựng các chế độ, chính sách lao động và tiền lƣơng để làm hành lang pháp lý cho các bên.
Sinh viên thực hiện: Trần Thị Hoài Lớp KTDNE – K12 Khóa luận tốt nghiệp 8 GVHD: Th.S Lê Minh Phương Tiền lƣơng là công cụ để Nhà nƣớc điều tiết lao động. Vì số lƣợng lao động ở các vùng, các ngành là không giống nhau nên Nhà nƣớc phải điều tiết lao động thông qua tiền lƣơng, tiền thƣởng. Các nhân tố ảnh hưởng đến tiền lương Tiền lƣơng không chỉ thuần túy là vấn đề kinh tế, vấn đề lợi ích mà nó còn là vấn đề xã hội liên quan trực tiếp đến chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nƣớc. Do vậy, tiền lƣơng bị ảnh hƣởng bởi rất nhiều nhân tố.
Nhân tố thuộc thị trƣờng lao động: Cung – cầu lao động ảnh hƣởng trực tiếp đến tiền lƣơng. Khi cung về lao động lớn hơn cầu về lao động thì tiền lƣơng có xu hƣớng giảm, khi cung về lao động nhỏ hơn cầu về lao động thì tiền lƣơng có xu hƣớng tăng, còn khi cung về lao động bằng với cầu lao động thì thị trƣờng lao động đạt tới sự cân bằng.Tiền lƣơng lúc này là tiền lƣơng cân bằng, mức tiền lƣơng này bị phá vỡ khi các nhân tố ảnh hƣởng tới cung cầu về lao động thay đổi nhƣ năng suất biên của lao động, giá cả của hàng hoá, dịch vụ ….