CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.1 Định nghĩa kiểm soát nội bộ: Trong quá trình nghiên cứu và phát triển lý thuyết KSNB, nhiều định nghĩa về KSNB đã được hình thành. Theo văn bản hướng dẫn kiểm toán quốc tế số 6 được Hội đồng Liên hiệp các nhà kế toán Malaysia (Malaysian Assembly of Certificated Public Accountant - MACPA) và Viện kế toán Malaysia (Malaysian Institute of Accountant - MIA) đưa ra như sau: “Hệ thống KSNB là cơ cấu tổ chức cộng với những biện pháp, thủ tục do Ban quản trị của một tổ chức thực thể chấp nhận, nhằm hỗ trợ thực thi mục tiêu của Ban quản trị đảm bảo tăng khả năng thực tiễn tiến hành kinh doanh trong trật tự và có hiệu quả bao gồm: tuyệt đối tuân theo đường lối của Ban quản trị, bảo vệ tài sản, ngăn chặn và phát hiện gian lận, sai lầm, đảm bảo tính chính xác, toàn hiện số liệu hạch toán, xử lý kịp thời và đáng tin cậy số liệu thông tin tài chính. Phạm vi của hệ thống KSNB còn vượt ra ngoài những vấn đề có liên quan trực tiếp với chức năng của hệ thống kế toán. Mọi nguyên lý riêng của hệ thống kiểm soát nội bộ được xem như hoạt động của hệ thống và được hiểu là Kiểm soát nội bộ”.
Hội kế toán Anh quốc (England Association of Accountant - EAA) định nghĩa về hệ thống KSNB như sau: “Một hệ thống kiểm soát toàn diện có kinh nghiệm tài chính và các lĩnh vực khác nhau được thành lập bởi Ban quản lý nhằm: - Tiến hành kinh doanh của đơn vị trong trật tự và có hiệu quả; - Đảm bảo tuân thủ tuyệt đối đường lối kinh doanh của Ban quản trị; - Giữ an toàn tài sản; - Đảm bảo tính toàn diện và chính xác của số liệu hạch toán, những thành phần riêng lẻ của hệ thống KSNB được coi là hoạt động kiểm tra hoặc hoạt động kiểm tra nội bộ”. Viện kiểm toán độc lập Hoa Kỳ (American Institute of Certificated Public Accountant - AICPA) định nghĩa KSNB như sau: “KSNB bao gồm kế hoạch của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tổ chức và tất cả các phương pháp phối hợp và đo lường được thừa nhận trong doanh nghiệp để bảo đảm an toàn tài sản có của họ, kiểm tra sự phù hợp và độ tin cậy của dữ liệu kế toán, tăng cường tính hiệu quả của hoạt động và khuyến khích việc thực hiện các chính sách quản lý lâu dài”. Theo Liên đoàn kế toán quốc tế (The International Federation of Accountant - IFAC) thì : “Hệ thống KSNB là kế hoạch của đơn vị và toàn bộ các phương pháp, các bước công việc mà các nhà quản lý doanh nghiệp tuân theo. Hệ thống KSNB trợ giúp cho các nhà quản lý đạt được mục tiêu một cách chắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả việc tôn trọng các quy chế quản lý; giữ an toàn tài sản, ngăn chặn, phát hiện sai phạm và gian lận; ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính kịp thời, đáng tin cậy”.
Theo tập 2 Giáo trình Đại học Kế toán chuyên nghiệp Canada: “Hệ thống KSNB được định nghĩa là hệ thống những quy định tài chính và quy định không tài chính. Hệ thống này do các nhà quản lý doanh nghiệp lập ra để điều hành quản lý kinh doanh theo trình tự và có hiệu quả. Đảm bảo tôn trọng mọi quy chế quản lý, giữ an toàn cho tài sản, duy trì chế độ ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính đúng thời hạn”. Hội đồng quốc gia này được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức là: - Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA) - Hội kế toán Mỹ (American Accounting Association) - Hiệp hội quản trị viên tài chính (the Financial Executives Institute – FEI) - Hiệp hội kế toán viên quản trị (Institute of Management Accountants – IMA) - Hiệp hội kiểm toán viên nội bộ (the Institute of Internal Auditors – IIA) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Năm 1992, một báo cáo được COSO công bố với tiêu đề “Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất” (Internal Control – Intergrated framework) đã định nghĩa về KSNB như sau: “KSNB là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: - (1) Sự hữu hiệu và hiệu quả hoạt động.
- (2) Sự tin cậy của báo cáo tài chính. - (3) Sự tuân thủ pháp luật và các quy định”. Tựu trung lại, các định nghĩa về kiểm soát nội bộ có các điểm chung sau đây: - Thông thường KSNB được hiểu bao gồm 2 phần: thứ nhất KSNB bao gồm các cơ chế, quy chế nghiệp vụ; các quy trình cộng với một cơ cấu tổ chức (gồm sắp xếp, phân công, phân nhiệm, phân cấp, ủy quyền v.) nhằm làm cho hoạt động của doanh nghiệp được hiệu quả, an toàn. Thứ hai là các bộ phận kiểm tra giám sát chuyên trách, trong đó có kiểm toán nội bộ nhằm đảm bảo cho việc vận hành các cơ chế kiểm soát nội bộ nói trên được thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả.
- Hệ thống KSNB sẽ gắn liền với mọi bộ phận, mọi quy trình nghiệp vụ và mọi nhân viên trong doanh nghiệp ít nhiều sẽ tham gia vào việc KSNB và kiểm soát lẫn nhau (chứ không đơn thuần là chỉ có cấp trên kiểm soát cấp dưới). Trong các khái niệm đã trình bày bên trên, khái niệm KSNB theo COSO đã bao hàm được các ý chung của các định nghĩa KSNB đã trình bày bên trên. Đồng thời định nghĩa của COSO tương đối dễ hiểu. Do đó, tác giả sẽ lựa chọn định nghĩa KSNB theo COSO xuyên suốt quá trình thực hiện luận văn của mình.
Bên cạnh đó, báo cáo COSO vào năm 2004 (gọi tắt là COSO 2004) là báo cáo do COSO triển khai nghiên cứu hệ thống quản trị rủi ro doanh nghiệp (ERM – Enterprise Risk Management Framework) trên cơ sở Báo cáo COSO năm 1992. Vì vậy, hướng nghiên cứu này sẽ phù hợp với 1 luận văn của ngành Quản trị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 kinh doanh. Đó là lý do tác giả lựa chọn định nghĩa KSNB theo báo cáo COSO 2004 làm kim chỉ nam cho quá trình nghiên cứu luận văn. Trong định nghĩa KSNB theo COSO như trên, bốn nội dung quan trọng cần lưu ý.
Đó là quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu. Cụ thể: KSNB là một quá trình, là một chuỗi các hoạt động kiểm soát hiện diện trong mọi bộ phận, gắn liền với các hoạt động của đơn vị. Quá trình kiểm soát sẽ hữu hiệu khi nó được xây dựng như một bộ phận không tách rời chứ không phải chức năng bổ sung cho các hoạt động của tổ chức hay là một gánh nặng bị áp đặt bởi cơ quan quản lý. Con người: KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người.
Đó là hội đồng quản trị, ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị. Mỗi thành viêntrong đơn vị với khả năng, kiến thức, kinh nghiệm và nhu cầu khác nhau sẽ vận hành hệ thống KSNB khác nhau. Do đó, để KSNB hữu hiệu, cần phải xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn mỗi thành viên và cách thức thực hiện của từng thành viên để đạt được các mục tiêu của đơn vị. Đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý cho các nhà quản trị trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị chứ không thể đảm bảo tuyệt đối.
Nguyên nhân là do (1) những hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành hệ thống KSNB (sự thông đồng, sự lạm quyền.); (2) mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí cho KSNB. Các mục tiêu: Báo cáo COSO 2004 bao gồm các nhóm mục tiêu: - Mục tiêu chiến lược: Liên quan đến các mục tiêu tổng thể và phục vụ cho sứ mạng của đơn vị. - Mục tiêu hoạt động: Liên quan đến việc sử dụng các nguồn lực một cách hữu hiệu và hiệu quả. - Mục tiêu báo cáo: Liên quan đến sự trung thực và đáng tin cậy của các báo cáo liên quan đến đơn vị - Mục tiêu tuân thủ: Đảm bảo hợp lý việc chấp hành luật pháp và các quy định.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Sự phân chia các nhóm mục tiêu chỉ có tính tương đối vì, thứ nhất là một mục tiêu trên có thể trùng lắp hoặc cũng có thể tách biệt nhau, thứ hai là việc phân loại còn phụ thuộc vào những góc độ kiểm soát khác nhau. Tuy nhiên, mục tiêu hoạt động, ví dụ như thị phần, sản phẩm mới… phụ thuộc hoàn toàn vào các biện pháp kiểm soát của đơn vị. Với nhóm mục tiêu này, KSNB chỉ cung cấp sự bảo đảm hợp lý trong việc giám sát, với hành động kịp thời sẽ giúp đơn vị có thể đạt được các mục tiêu.2 Các bộ phận của hệ thống KSNB theo báo cáo COSO 2004: Theo báo cáo của COSO (2004), hệ thống KSNB gồm có 8 bộ phận và được khái quát qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Các bộ phận cấu thành hệ thống Kiểm soát nội bộ Môi trường kiểm soát Thiết lập Giám sát mục tiêu HỆ THỐNG Thông tin KIỂM Nhận và truyền dạng sự thông SOÁT NỘI kiện BỘ Hoạt Đánh giá động rủi ro kiểm soát Phản ứng rủi ro Môi trường kiểm soát: Là nền tảng cho các bộ phận khác trong hệ thống KSNB. Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung, tác động đến ý thức của mọi người trong tổ chức; tạo nên cấu trúc và phương thức vận hành về quản trị rủi ro trong tổ chức đó.
Các nhân tố của môi trường kiểm soát bao gồm: Giá trị đạo đức và tính chính trực, Rủi ro có thể chấp nhận được, Cam kết về năng lực, Hội đồng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 quản trị và Ủy ban kiểm toán, Triết lý về quản lý rủi ro, Cơ cấu tổ chức, Phân định quyền hạn và trách nhiệm, Chính sách và thủ tục nguồn nhân lực. Thiết lập mục tiêu: Là điều kiện tiên quyết để KSNB hữu hiệu. Mục tiêu cung cấp những chỉ tiêu lượng hóa mà tổ chức cần đạt được. Mục tiêu được thiết lập ở cấp độ chiến lược, đây là cơ sở cho các hoạt động, báo cáo và các mục tiêu phù hợp ở cấp thấp hơn.
Mỗi tổ chức phải đối mặt với nhiều rủi ro từ nguồn bên trong và bên ngoài.