CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH 1. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Công chức, viên chức quản lý kinh tế Khái niệm công chức: Tác giả Tô Tử Hạ đã khẳng định: “chế độ công chức ra đời ở các nước tư bản phương Tây vào nửa cuối thế kỷ XIX, nó phản ánh nhu cầu khách quan của lịch sử phát triển nhà nước. Nhân vật trung tâm của chế độ công chức là đội ngũ công chức với tiêu chuẩn, số lượng, cơ cấu hợp lý, đáp ứng hoạt động của nền hành chính thông suốt, hiệu lực và hiệu quả” (Tô Tử Hạ, 1998).
Chế độ công chức của mỗi quốc gia là do đặc điểm lịch sử, kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội quy định. Trên thực tế, ở các quốc gia khác nhau không có sự giống hệt nhau về chế độ công chức. Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi QLNN, thi hành pháp luật; cũng có nước quan niệm công chức bao gồm cả những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp thực hiện dịch vụ công. Nhìn chung, tuỳ theo cách hiểu về công vụ rộng hay hẹp mà khái niệm về công chức cũng có nội hàm rộng hay hẹp tương ứng.
Nhưng nói chung, quan niệm ở phần lớn các nước, công chức là những người làm việc trong bộ máy hành chính, thực thi quyền hành pháp. Ở nước ta trước đây không có sự phân biệt rành rọt về khái niệm công chức. Tất cả những người làm việc trong cơ quan hành chính, sự nghiệp, thậm chí trong cả các đơn vị sản xuất kinh doanh đều được điều chỉnh trong một khái niệm chung là cán bộ, công nhân viên. Với phạm vi này, khái niệm công chức không xác định.
Từ khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, vấn đề công chức được bàn bạc và xuất hiện nhiều ý kiến khác nhau, một số ý kiến cho rằng công chức bao gồm những người làm việc trong bộ BMNN nói chung, kể cả những cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang như quân đội nhân dân, bộ đội biên phòng. và các cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong các tổ chức SXKD của Nhà nước. Cũng có lúc chúng ta giới hạn công chức trong khuôn khổ của bộ máy hành 8 chính và xem công chức là "công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm, giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp". Quan điểm này cho rằng công chức gồm những người hoạt động trong các cơ quan hành chính sự nghiệp của nhà nước và bộ máy phục vụ của các cơ quan nhà nước khác.
Điều đó đã được thể hiện trong điều 1 của Pháp lệnh CBCC do Quốc hội nước cộng hoà XHCN Việt Nam ban hành ngày 26/02/1998: "CBCC quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”, bao gồm: “1. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao giữ một công vụ thường xuyên được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng; 4.
Thẩm phán toà án nhân dân, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân; 5. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp” (Ủy ban thường vụ Quốc Hội, 1998). Như vậy, "cán bộ, công chức" được hoà quyện trong định nghĩa nói trên và chưa thể phân biệt đâu là công chức, đâu là cán bộ. Hơn nữa, thuật ngữ "cán bộ" có nội hàm rất rộng.
Phạm vi làm việc của cán bộ từ các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể, các tổ chức xã hội, các đơn vị SXKD, lực lượng vũ trang, công an nhân dân từ trung ương đến địa phương. 9 Như vậy, Luật đã phân biệt được cán bộ và công chức, không có công chức dự bị, không điều chỉnh viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Trả lời được câu hỏi: Ai là công chức? và công chức gắn với tiêu chí tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. “Công chức là người do bầu cử, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2008).
Công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo trình độ đào tạo, công chức được phân thành Chính phủ (2020): 1. Công chức loại A - có trình độ đào tạo chuyên môn từ bậc đại học trở lên; 2. Công chức loại B - có trình độ đào tạo chuyên môn ở bậc trung học chuyên nghiệp, cao đẳng; 3.
Công chức loại C - có trình độ đào tạo chuyên môn ở bậc sơ cấp; 4 Công chức loại D - có trình độ đào tạo chuyên môn ở bậc dưới sơ cấp. Theo ngạch chuyên môn, công chức được phân thành: 1. Công chức ngành hành chính - sự nghiệp; 2. Công chức ngành lưu trữ, 3.
Công chức ngành thanh tra; 4. Công chức ngành tài chính; 5. Công chức ngành tư pháp; 6. Công chức ngành ngân hàng; 7.
Công chức ngành hải quan; 8. Công chức ngành nông nghiệp; 9. Công chức ngành kiểm lâm; 10. Công chức ngành thủy lợi, 11.
Công chức ngành xây dựng; 12. Công chức ngành khoa học kĩ thuật; Công chức ngành khí tượng thủy văn. Công chức ngành giáo dục, đào tạo; 10 15. Công chức ngành y tế; 16.
Công chức ngành văn hóa - thông tin; 17. Công chức ngành thể dục, thể thao; 18. Công chức ngành dự trữ quốc gia”. Khái niệm viên chức: “Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2010).
Khái niệm công chức, viên chức quản lý kinh tế: là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm ngạch, chức danh trong cơ quan Nhà nước có chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế. Đào tạo, bồi dưỡng Thông thường, đối với nhiều quốc gia trên thế giới thì đào tạo là quá trình diễn ra trước khi trở thành công chức. Đào tạo rồi mới sử dụng, người ta gọi là giai đoạn tiền công vụ. Ở các nước đó người ta sử dụng thuật ngữ "tu nghiệp" thay vì "ĐTBD".
Một số nhà nghiên cứu, quản lý ở nước ta cũng đồng tình với quan niệm này. Ở trường Maxuel của Mỹ người ta còn gọi đào tạo công chức giữa nhiệm kỳ chức nghiệp, tức là bồi dưỡng những công chức đang làm việc. Mặc dù quá trình đào tạo thường diễn ra đối với phần lớn số người trước khi trở thành công chức, song cũng không có nghĩa trong quá trình tham gia công vụ không có đào tạo. Bồi dưỡng thường diễn ra sau đào tạo, nghĩa là sau khi người lao động đã có một nghề về một lĩnh vực chuyên môn để có thể lập nghiệp.
Theo Đinh Văn Tiến, Thái Vân Hà (2013) “Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo các chuyên đề. Các hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội để củng cố và mở mang một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ sẵn có để lao động nghề nghiệp một cách có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, kỹ thuật, công nghệ thay đổi nhanh chóng, nhiều lĩnh vực tiếp cận với nhau để hình thành những lĩnh vực mới. thì mặc dầu không đổi nghề, nhưng người lao động vẫn cần 11 được trang bị thêm những kiến thức và kỹ năng của một lĩnh vực chuyên môn mới thì mới có thể tiếp cận hành nghề.
Chẳng hạn công chức được tuyển về làm việc trong các đơn vị của cơ quan Tổng Liên đoàn, trước khi chuyển về cơ quan, mặc dù đã được đào tạo các chuyên ngành nhưng khi được tuyển chọn vào làm việc ở cơ quan của hệ thống Công đoàn đều phải được bồi dưỡng thêm các kiến thức, kỹ năng về công tác công đoàn”. Khái niệm "đào tạo" trong ĐTBD cán bộ, công chức có những nội hàm khác với khái niệm đào tạo thuần tuý, bởi lẽ ngoài nghĩa đào tạo thông thường, nó còn có ý nghĩa trang bị những kiến thức, kỹ năng mới mà trước đó, có thể người cán bộ, công chức chưa được biết đến hoặc chưa đựơc đào tạo. Luật cán bộ, công chức năm 2008 nêu rõ: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học. Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc.
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải căn cứ vào tiêu chuẩn, chức vụ, chức danh cán bộ, yêu cầu nhiệm vụ và phù hợp với quy hoạch cán bộ. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ do cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định. Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định theo ngạch công chức. Đào tạo, bồi dưỡng trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc theo chương trình quy định cho từng chức vụ.
Bồi dưỡng theo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2008). Phân loại CCVC quản lý kinh tế: Phân loại căn cứ theo trình độ đào tạo. Phân loại theo ngạch công chức. Phân loại theo cấp quản lý hành chính.