Chương 1: Một số vẫn đẻ lý luận cơ bản về đãi ngộ nhân sự trong các tô chức hành chính. Chương 2: Thực trạng công tác đãi ngộ nhân sự tại Kho bạc Nhà nước Bắc Ninh. Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đãi ngộ nhân sự tại Kho bạc Nhà nước Bắc Ninh. 6 CHUONG 1 MOT SO VAN DE LY LUAN CO BAN VE DAI NGO NHAN SU TRONG CAC TO CHUC HANH CHINH 1.
Vi tri, vai trò và đặc điểm của đãi ngộ nhân sự trong công tác quản trị nhân sự của tô chức hành chính 1. Quản trị nhân sự trong các tô chức hành chính 1. Khái niệm quản trị nhân sự trong các tô chức hành chính Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO. Bên cạnh những cơ hội và thuận lợi mới sẽ là những thách thức đang đón chờ.
Điều đó buộc chúng ta phải thay đổi tư duy trong sản xuất, kinh đoanh như tập trung đầu tư vào công nghệ, vào nguồn nhân lực dé tạo ra những sản phẩm chất lượng tốt hơn và tính cạnh tranh cao hơn thay vì tiết kiệm chi phí nhằm hạ giá thành dé có nguồn lợi nhuận cao. Đây là cơ hội để phát triển chiến lược nguồn nhân lực. “Sự kỳ diệu kinh tế Nhật Bản” là minh họa có tính thuyết phục nhất về sự thành công của chiến lược con người cũng như chính sách nhân sự của đất nước có nên kinh tế lớn thứ 2 thế giới này. Nhưng quản trị nhân sự là gì? Hiểu thế nào về quản trị nhân sự ? Ngày nay muốn làm được việc vĩ đại hay thành đạt trong kinh doanh nhà quản trị cần phải tìm ra được phương pháp tác động đến con người nhằm thu hút, duy trì- đào tạo, sử dung và phát triển nguôn nhân lực trong tô chức minh sao cho đạt hiệu quả tối ưu.
Đó chính là nội dung quản trị nhân sự. Thực tế cho thay, một lãnh đạo giỏi cần phải dành nhiều thời gian nghiên cứu giải quyết các vấn dé nhân sự hơn các vấn dé khác. Thay vì dành nhiều thời gian làm việc với máy móc. trang bị kỹ thuật, nhà quản trị phải học cách giao dịch với người khác, phải biết cách đặt câu hỏi, biết lắng nghe, biết tìm ra ngôn ngữ chung với nhân viên, biết cách nhạy cảm với nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên một cách tột nhat, biết cách lôi kéo nhân viên say mé với công việc.
Làm được việc này, nhà quản trị sẽ tránh được các sai làm trong việc tuyên chọn và sử dụng lao động góp phản quyết định nâng cao chất lượng công việc, nâng cao hiệu quả tô chức. Vì thế, có thé nói quan trị nhân sự là một công việc hết sức khó khăn và phức tạp, bởi vì nó động chạm đến những con người cụ thê với những hoàn cảnh và nguyện vọng, sở thích, cảm xúc và văn hóa cụ thể riêng biệt. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản trị nhân sự: Quan niệm thứ nhất : Quản trị nhân sự là nghệ thuật chọn lựa những nhân viên mới và sử dụng những nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người déu đạt tới mức tối đa có thé được. Quan niệm thứ hai: Quan trị nhân sự chính là chức năng cán bộ.
Quản trị nhân sự đi sâu nghiên cứu khai thác mọi tiềm tàng trong mỗi nhân viên, khuyến khích họ làm việc chủ động, năng động với hiệu suất cao, làm việc tận tụy, trung thành với tô chức. Quan niệm khác: Quản trị nhân sự là tông hợp những hoạt động quản trị liên quan đến việc thu hút, đào tạo- phát triển và duy trì con người của một tô chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tô chức lẫn nhân viên. Mỗi một quan niệm có cách tiếp cận khác nhau. Mặc dù vậy, các quan niệm này đều cho rằng quản trị nhân sự là một trong những chức năng cơ bản của quá trình quản trị nói chung.
Tuy nhiên, quản trị nhân sự khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quan trị các yếu tố khác. Quan trị nhân sự gắn liền với mọi tô chức, du giản đơn hay phức tap. Quản trị nhân sự trong một tô chức thé hiện mối quan hệ giữa các nhà quan trị và người lao động nhằm dat được mục tiêu chung của tô chức. Từ các cách tiếp cận trên, có thê rút ra khái niệm chung nhất về quản trị nhân sự trong tô chức như sau: Quan trị nhân sự là sự phối hợp mội cách tong thê các hoạt động hoạch định, tuyển mo, tuyên chon, duy tri, phat triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuan lợi cho tài nguyên nhân sự thông qua tô chức nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng viên cảnh của tó chức Do vị trí, vai trò và đặc điểm của lao động trong tô chức hành chính, việc quản lý nguồn nhân lực hành chính nhà nước là một công tác hết sức quan trọng.
Nó là nhân tố đảm bảo cho nên hanh chính nhà nước có được những người thi hành pháp luật, thực hiện quản lý nhà nước, đáp ứng được với những yêu cầu của một nên hành chính trong sạch, hiệu lực, hiệu quả trong điều kiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập khu vực và thé gidi. Nội dung cơ ban của công tác quản trị nhân sự trong các tô chức hành chính Nhà nước là tô chức lớn nhất, rộng nhất về quy mô. Quy mô các cơ quan quản lý hành chính nha nước không chỉ về só lượng đầu mỗi mà còn cả về số lượng người lao động làm việc. Quản lý hành chính nhà nước mang tính toàn diện trên nhiều lĩnh vực và do đó đội ngũ cán bộ, nhân sự của hệ thống Các cơ quan nhà nước rất đa dạng cả về ngành nghẻ và lĩnh vực hoạt động.
Tính đa dạng đó tạo cho hệ thống nhân sự của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước vừa to về quy mô, vừa phức tạp về cơ cau tô chức và phân loại. Điều đó đặt ra yêu cầu phải có một hình thức quan lý nhân sự khác biệt với các tô chức kinh tế khác. Quản trị nhân sự trong các tô chức hành chính bao gồm bốn nội dung cơ bản, đó là: xác định nhu cau, nguồn nhân sự và tuyển chọn; bố trí và sử dụng; đào tạo bôi dưỡng và phát triển; đánh giá và đãi ngộ nhân sự. , : a À A ` a * Xác định nhu câu, nguồn nhân sự và tuyên chon 9 Muon quan trị nhân sự đạt hiệu quả cao thì trước tiên nhà quản trị phải xác định được nhu cầu về nhân sự hiện tại cũng như dự báo được nhu cầu về nhân sự trong tương lai của tô chức mình.
Việc này nhằm đảm bảo cho tô chức có thé có được đúng người, đúng yêu cau, vào đúng thời điểm can thiết và đối phó linh hoạt với sự thay đổi của môi trường. Xác định nhu cầu lao động không chính xác sẽ dẫn đến: một là, thừa lao động sẽ làm tăng chỉ phí; hai là, thiếu lao động hay chất lượng lao động không đáp ứng nhu câu sẽ ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện công việc, kìm hãm sự phát triển của tô chức. Xác định nhu cầu nhân sự cần phải đi từ dưới đi lên tức là trước hết phải xác định nhu cầu từ cấp cơ sở sau đó mới xác định nhu cầu các cấp cao hơn. Trong tô chức hành chính, nhu cầu nhân sự được xác định trên cơ sở kế hoạch nhân sự ngắn hạn và dai hạn gồm: số người cần tuyển dụng thêm (do khói lượng công việc tăng hoặc bỏ sung thêm nội dung công việc), số người nghỉ hưu, số người thuyên chuyên.
Trên cơ sở xác định được nhu cầu về nhân sự, nhà quản trị cần phải khai thác các nguồn khả năng lao động. Trước hết là phân tích hiện trạng nguồn lao động hiện có của tô chức. Việc này sẽ giúp nhà quản trị phát hiện được điểm mạnh, điểm yếu của tổ chức mình, từ đó dé ra các giải pháp hữu hiệu cho quá trình quản trị nhân sự. Các giải pháp có thê là: thực hiện hạn chế việc tuyên dụng: cho nghỉ hưu sớm; giảm biên chế theo quy định của pháp luật.
(trường hợp nhu cầu nhỏ hơn khả năng của tô chức) hoặc thực hiện thuyên chuyển nhân viên nhằm đáp ứng nhu cầu công việc; thăng chức căn cứ vào thâm niên, thành tích và khả năng làm việc của nhân viên; giáng chức đối với những nhân viên thiếu khả năng. không đáp ứng được yêu cầu công việc. Trong trường hợp thứ hai, việc tuyển dụng thực chất là một hình thức đãi ngộ nhân sự, kích thích người lao động không ngừng học tập bôi dưỡng. nâng 10 cao trình độ, năng lực làm việc của mình dé được thăng tiến.
Nhờ vậy mà tô chức hành chính sử dụng có hiệu quả hơn đội ngũ lao động sẵn có, tạo thêm lực lượng trung thành với tô chức, đồng thời tiết kiệm được chi phí tuyển dụng, hội nhập nhanh chóng, dé dang, ít tốn thời gian. Tuy nhiên, việc thăng chức nội bộ có nhược điềm là dé gây hiện tượng rap khuôn với cách làm việc của cấp trên trước đây, không phát huy được tính sáng tạo, không day lên được bau không khí thi đua mới, đặc biệt nguy hiểm nếu tô chức đang ở trong tinh trang trì trệ. Có thê nói, đây là van dé tế nhị, phức tạp và khó khăn, đòi hỏi nhà quản trị phải hết sức thận trọng khi thực hiện quyết định (những người ứng cử mà không được tuyên chon dé có ảnh hưởng tiêu cực tới bầu không khí chung của tô chức). Nếu sau khi đã sắp xếp lại mà tổ chức vẫn không cân đối được nguồn nhân lực thì tổ chức phải tiền hành khai thác nguồn nhân lực từ bên ngoài trên cơ sở phân tích các khả năng thu hút nhân sự từ bên ngoài.
Việc thu hút lao động từ bên ngoài luôn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài (Thị trường lao động; Khung cảnh kinh tế; Luật pháp; Văn hóa- Xã hội; Chính quyền và đoàn thể.) và cả bởi các yếu tố hiện có của tổ chức (Chính sách cán bộ của tổ chức; Uy tín của tô chức; Sức hấp dẫn của công việc; Khả năng tài chính của tô chức. Nguồn từ bên ngoài được tuyển chọn từ các cơ sở đào tạo (các trường đại học, cao đăng, trung hoc.), các văn phòng giới thiệu việc làm, cơ quan thông tin đại chúng (đài phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí.) hoặc qua cá nhân ứng viên. Nguồn này phong phú, đa dạng và mới mẻ hơn.