CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÂN SỰ 1. Khái niệm, vai trò của quản lý nhân sự 1. Khái niệm về quản lý nhân sự Thu hút hay giữ chân nhân viên có năng lực và đủ tiêu chuẩn, sắp xếp công việc phù hợp để người lao động làm việc và cống hiến cho tổ chức là điều mà mọi doanh nghiệp muốn hướng tới. Tuy nhiên làm thế nào để đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra thì điều đó doanh nghiệp phải làm tốt công tác quản lý nhân sự.
Có rất nhiều các quan niệm khác nhau về nói về nhân sự. Theo Wikipedia: “Nhân sự là bao gồm tất cả các tiềm năng cuả con người trong một tổ chức xã hội” [17]. Mỗi hình thái xã hội đều có phương thức sản xuất nhất định và như vậy xu hướng quản lý sẽ phải thay đổi theo để phù hợp với sự phát triển của xã hội. Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào quá trình khai thác và sử dụng nhân sự một cách hiệu quả.
- Chất lượng nhân sự là một chỉ tiêu tổng hợp có ý nghĩa quyết định tới nhân sự và phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó có 03 nhóm yếu tố cơ bản gắn liền với người lao động: Kiến thức; Kỹ năng; Hành vi, thái độ, phẩm chất, đạo đức. Đi đôi với khái niệm nhân sự là khái niệm nhân lực, theo đó: “Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động” (Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm, 2012). Nguồn nhân lực được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau.
Về cơ bản, quan niệm của các nước và tổ chức quốc tế về nguồn nhân lực tương đối thống nhất với nhau về bản chất, nội dung và các giới hạn xác định nguồn nhân lực. Theo Begg, Fischer và Dornbusch: “Nguồn nhân lực là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu 5 nhập trong tương lai”. Cũng giống như nguồn nhân lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tư trong quá khứ với mục đích tạo ra thu nhập trong tương lai. Cách hiểu này còn hạn hẹp, chỉ giới hạn trong trình độ chuyên môn của con người và chưa đặt ra giới hạn về mặt phạm vi không gian của nguồn nhân lực”.
Theo nguồn Kiwipedia định nghĩa: “Quản lý nhân sự được hiểu là những tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý nhân sự đến các khách thể quản lý nhân sự nhằm đạt được các mục tiêu quản lý nhân sự đã đề ra” [17] Theo giáo sư người Mỹ Dimock: “Quản lý nhân sự bao gồm toàn bộ các biện pháp và thủ tục áp dụng cho nhân viên của một tổ chức và giải quyết tất cả các trường hợp xảy ra có liên quan đến một loại công việc nào đó” [3] Như vậy “Quản lý nhân sự là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo điều kiện cho tài nguyên nhân sự thông qua doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu chiến lược và định hướng phát triển của doanh nghiệp” Trong đó nhân sự được phân loại theo các tiêu chuẩn khác nhau giúp cho nhà quản lý nắm được thông tin, trình độ của nhân sự. Mặt khác giúp cho việc lập dự toán chi phí nhân công trong chi phí SXKD, lập kế hoạch quỹ lương và thuận lợi cho việc kiểm tra tình hình thực hiện các kế hoạch và dự toán này. Thông thường hiện nay, người ta sử dụng một số tiêu thức cơ bản để phân loại nhân sự của một doanh nghiệp: - Phân loại theo vị trí chức danh, nhân sự của doanh nghiệp bao gồm: cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, nhân viên. + Nhà lãnh đạo, quản lý: Trong doanh nghiệp, nhà lãnh đạo được xác định từ vị trí, nhiệm vụ và hoạt động của họ đối với doanh nghiệp.
Nhà lãnh đạo có thể xuất hiện ở mọi cấp trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, như lãnh đạo toàn bộ doanh nghiệp có tổng giám đốc, giám đốc, lãnh đạo phòng có trưởng phòng, lãnh đạo nhóm làm việc có trưởng nhóm,. Càng ở vị trí cao, nhà lãnh đạo càng có quyền lực chức vị và trách nhiệm công việc càng 6 lớn. Nhà quản lý được định nghĩa là những người điều khiển công việc của người khác và chịu trách nhiệm trước kết quả hoạt động của họ. Nhà quản lý là người lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát con người, tài chính, vật chất và thông tin một cách có hiệu quả để đạt được mục tiêu.
Nhà quản lý được chia thành: Nhà quản lý cấp cao; Nhà quản lý cấp trung; Nhà quản lý cấp cơ sở. + Nhân viên: là những người còn lại, không giữ các chức danh lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp, họ chịu trách nhiệm đối với công việc được giao. - Phân loại theo tính chất của lao động, nhân sự của doanh nghiệp bao gồm: Lao động gián tiếp, lao động trực tiếp. - Lao động gián tiếp: bao gồm những người chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp.
- Lao động trực tiếp: Là những người trực tiếp tiến hành các hoạt động SXKD tạo ra sản phẩm, hay trực tiếp thực hiện những công việc nhất định nhằm tạo ra giá trị cho doanh nghiệp. Vai trò của quản lý nhân sự Với sự phát triển của kinh tế xã hội thì tư duy và khả năng sáng tạo của con người cũng được minh chứng đến tận ngày nay. Từ việc phát minh ra các công cụ thô sơ đến những máy móc trang thiết bị mang tính công nghệ cao thì điều đó có nghĩa là không gì là con người không thể tạo ra. Vậy nên yếu tố con người là yếu tố rất quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp.
Ở bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng cần phải có bộ phận nhân sự gắn liền với hoạt động quản lý nhân sự. Theo kết quả phân tích hồi quy hàm số sản xuất của các nền kinh tế Đông Nam Á, thì 60% tốc độ tăng trưởng thực của nền kinh tế là do đóng góp của tích lũy vốn vật chất và vốn con người trong đó vốn vật chất đóng góp từ 35%-49%, còn lại là phần đóng góp của vốn con người. Nghiên cứu về mối tương quan giữa giáo dục với tăng trưởng kinh tế ở 74 nước có thu nhập thấp và trung bình giai đoạn 1960-1985, N.Sabot đã rút ra kết luận: nếu tỷ lệ học sinh tiểu học tăng lên 1% thì GDP 7 tăng 0,62%; nếu tỷ lệ học sinh trung học tăng lên 1% thì GDP tăng 0,34% (132,tr. Như vậy qua các nghiên cứu kinh tế trên có thể khẳng định rằng đầu tư cho con người là một hoạt động đầu tư có hiệu quả và mang lại lợi ích cao cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế.
Như vậy, có thể khẳng định rằng mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế là mối quan hệ biện chứng nhân quả. Phát triển nguồn nhân lực sẽ đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế; đến lượt mình tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện thúc đẩy phát triển nguồn nhân lực. Nếu như các yếu tố khác có thể mua được thì yếu tố con người không đơn giản như vậy. Jim Keyser cho rằng “Các công ty ngày nay hơn nhau hay không chính là do phẩm chất, trình độ và sự gắn bó của nhân viên đối với công ty- nghĩa là các nhà quản trị phải nhận thức và đề ra chiến lược quản trị nguồn tài nguyên nhân sự của mình một cách có hiệu quả”[ 6] Nếu như những doanh nghiệp chỉ dựa vào kinh nghiệm trên thị trường mà không biết khai thác nguồn lực này thì doanh nghiệp khó có thể cạnh tranh và đứng vững trên thị trường đầy biến động như hiện nay.
Bởi lẽ quản lý là thực hiện mục tiêu của mình thông qua hoạt động của người khác. Và muốn họ làm việc cho mình thì bản thân nhà quản lý cần phải hiểu rõ nhân viên cấp dưới. Để tác động có hiệu lực phải hiểu sâu sắc về con người, vì con người là khách hàng, là đối tác, là chủ thể quản lý, là đối tượng quản lý. Công tác Quản lý nhân sự thể hiện ở việc doanh nghiệp tổ chức công tác nhân sự; bố trí, sắp xếp nhân sự; đào tạo nhân sự…Có như vậy mới tạo ra được uy tín cho nhà quản lý, giúp cho con người có niềm tin vào lãnh đạo, có động lực làm việc cống hiến cho tổ chức mà nhà quản lý đạt được đúng mục tiêu của họ đề ra.
Ngày nay, vai trò của công tác quản trị nhân lực ngày càng quan trọng bởi sự cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt và nguồn nhân lực là yếu tố chiến lược tạo lên lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Hơn nữa, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã tạo ra những nhân sự có trình độ chuyên môn và tay nghề cao. Chất xám, tri thức, kinh nghiệm của đội ngũ này là yếu tố quyết định cho sự cạnh tranh của doanh nghiệp. Nội dung của quản lý nhân sự Trong thực tiễn thì hoạt động quản lý nhân sự là một hoạt động rất đa dạng bởi nó liên quan đến tất cả những vấn đề thuộc về nhân sự nhằm đạt được hiệu quả cao nhất cho tổ chức cũng như chính bản thân nhân sự đó.
Đó là các vấn đề như quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của người lao động. Và hoạt động quản lý nhân sự trong thực tiễn phụ thuộc vào tài chính, đặc điểm kỹ thuật, công nghệ trong tổ chức. Nội dung của công tác quản lý nhân sự gồm: 1. Hoạch định nhân sự “Hoạch định nhân sự là quá trình xây dựng các mục tiêu phát triển nhân sự và xác định các nguồn lực, quyết định cách tốt nhất để thực hiện các mục tiêu đã đặt ra của một doanh nghiệp”.
Thông thường, công tác lập kế hoạch nhân sự được thực hiện theo 03 bước: Bước 1: Phân tích môi trường của doanh nghiệp Để phân tích được môi trường doanh nghiệp thì cần phải phân định rõ hai loại: môi trường vi mô và môi trường vĩ mô.