phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực cho ngƣời lao động trong doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng tạo động lực cho ngƣời lao động tại Công ty TNHH MTV Đóng tàu Hồng Hà – Tổng cục công nghiệp quốc phòng Chƣơng 3: Một số biện pháp tăng cƣờng tạo động lực cho ngƣời lao động tại Công ty TNHH MTV Đóng tàu Hồng Hà – Tổng cục công nghiệp quốc phòng 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Động lực lao động 1. Khái niệm động lực lao động Các nhà quản lý trong doanh nghiệp luôn cố gắng nâng cao hiệu suất làm việc, do vậy họ rất quan tâm đến vấn đề tạo động lực. Phải tạo cho nhân viên động cơ để thực hiện mục đích đặt ra của tổ chức đó là yêu cầu của các nhà quản lý.
Vì vậy có rất nhiều quan điểm về động lực lao động: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con ngƣời làm việc cho phép tạo ra năng suất hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức cũng nhƣ của bản thân ngƣời lao động” [14,tr8]. “Động lực lao động là tất cả những gì tác động đến con ngƣời, thôi thúc con ngƣời làm việc” [1,tr9]. “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức” [7,tr5].
Con ngƣời chỉ hành động khi có lợi ích do vậy tạo động lực chính là xác định nhu cầu của ngƣời lao động và cố gắng đáp ứng nhu cầu hợp lý đó của ngƣời lao động. Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của ngƣời lao động để tăng cƣờng nỗ lực nhằm hƣớng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức. Môi trƣờng làm việc thoải mái, tăng cƣờng tính quản lý cho ngƣời lao động để họ cảm thấy họ đƣợc tôn trọng trong tổ chức là điều đặt ra cho nhà quản lý. Động lực lao động là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất lao động cá nhân và tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh của tổ chức.
Động lực lao động xuất hiện trong quá trình lao động và do các nhân tố bên ngoài tạo ra. Nó không phải là đặc tính cá nhân. Do vậy muốn tạo động lực cho ngƣời lao động thì nhà quản lý phải nghiên cứu, tìm hiểu môi trƣờng làm việc, công việc, mối 5 quan hệ của họ trong tổ chức từ đó tìm ra cách tạo động lực có hiệu quả cao nhất. Một số đặc điểm của động lực lao động Động lực lao động luôn gắn liền với công việc, với tổ chức và với môi trƣờng làm việc cụ thể, không có động lực chung chung không gắn với công việc cụ thể nào.
Động lực lao động đƣợc thể hiện trong một công việc cụ thể mà họ đảm nhận, trong thái độ của họ với tổ chức. Để tạo ra động lực lao động, nhà quản trị cần hiểu rõ công việc, môi trƣờng làm việc, cũng nhƣ mối quan hệ của họ với tổ chức. Động lực không phải là đặc điểm tính cách cá nhân. Nó không phải là cố hữu mà nó luôn luôn thay đổi tùy vào từng thời điểm.
Chính đặc điểm này mà nhà quản trị có thể can thiệp vào quá trình tạo động lực lao động cho ngƣời lao động của mình. Động lực lao động mang tính tự nguyện. Ngƣời lao động có động lực lao động sẽ làm việc hết mình, làm việc một cách hăng say có chủ đích hoàn toàn tự nguyện mà không hề cảm thấy phải chịu áp lực hay sức ép nào. Động lực lao động là nguồn gốc dẫn đến tăng năng suất cá nhân và SXKD có hiệu quả trong điều kiện các nhân tố khác không đổi.
Động lực lao động tạo nên sức mạnh vô hình bên trong con ngƣời thúc đẩy con ngƣời nỗ lực làm việc hơn, hăng say làm việc hơn. Nhƣng động lực lao động không phải là nhân tố quyết định để tăng năng suất lao động và hiệu quả SXKD, nâng cao kinh nghiệm và trình độ chuyên môn của ngƣời lao động. Trên thực tế ngƣời lao động không có động lực lao động họ vẫn có thể hoàn thành công việc vì họ có trình độ, tay nghề và nhiệm vụ phải hoàn thành… nhƣng hiệu quả công việc không phản ánh đúng khả năng của họ. Nếu ngƣời lao động mất động lực hoặc suy giảm động lực thì lúc đó họ có thể không hoàn thành nhiệm vụ của mình hoặc hoàn thành nhƣng kết quả không cao đến một mức độ nào đó họ có xu hƣớng ra khỏi tổ chức.
Các yếu tố ảnh hưởng đến động lực của người lao động 1. Các yếu tố thuộc về người lao động * Mục tiêu cá nhân người lao động: Mục tiêu cá nhân là cái mà ngƣời lao động đặt ra và mong muốn đạt đƣợc. Mục tiêu là động cơ thôi thúc ngƣời lao động làm việc. Trong một hoạt động cụ thể thì ngƣời lao động và tổ chức đều có những mục tiêu nhất định.
Không phải lúc nào mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của ngƣời lao động cũng đồng nhất với nhau mà có khi lại trái ngƣợc nhau. Nếu không có sự dung hòa thì cả hai bên đều không đạt đƣợc mục tiêu của mình. Vì vậy nhiệm vụ của ngƣời quản lý là làm sao hƣớng các mục tiêu cá nhân đồng nhất hoặc không mâu thuẫn với mục tiêu của tổ chức và tạo điều kiện để ngƣời lao động hoàn thành tốt mục tiêu đó. [14,tr13] * Hệ thống nhu cầu cá nhân: Nhu cầu là sự đòi hỏi, mong muốn tất yếu mà con ngƣời thấy cần phải thỏa mãn trong những điều kiện nhất định để tồn tại và phát triển.
Có hai loại nhu cầu là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần: - Nhu cầu vật chất giúp cho sự tồn tại và phát triển về mặt sinh học, đó là nhu cầu ăn, uống, nhà ở, phƣơng tiện đi lại… - Nhu cầu tinh thần bao gồm những nhu cầu về các hoạt động trên lĩnh vực nhận thức, học tập, giao lƣu… Trong hai nhu cầu trên nhu cầu vật chất xuất hiện trƣớc, khi xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu tinh thần ngày càng tăng nhanh. Nhu cầu vật chất có giới hạn còn nhu cầu tinh thần thì không có giới hạn, càng ngày nhu cầu đó càng phát triển về chất lƣợng. Vì vậy nhà quản lý cần phải biết đƣợc ngƣời lao động muốn gì từ công việc của họ để có cách thỏa mãn nhu cầu cho họ nhằm đem lại động lực lao động. * Thái độ cá nhân người lao động với công việc: Thái độ cá nhân ngƣời lao động với công việc đƣợc thể hiện thông qua chỉ số về hứng thú với công việc.
Trong thực tế, ngƣời lao động làm việc trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau chịu sự chi phối của các yếu tố môi trƣờng khác nhau, do đó mức độ hứng thú đối với công việc khác nhau. Thái độ này biểu hiện chiều 7 hƣớng hoạt động của họ khi tham gia vào các công việc. Nếu ngƣời lao động có thái độ hứng thú làm việc thì công tác tạo động lực sẽ đạt hiệu quả tốt hơn. Nếu ngƣời lao động có thái độ lƣời biếng trong công việc thì việc đạt hiệu quả cao trong công tác tạo động lực thật là khó.
Vì vậy nhà quản lý cần phân công đúng việc tạo hứng thú cao trong lao động. * Khả năng kinh nghiệm của người lao động: Để tạo động lực cho ngƣời lao động ngƣời quản lý cần giao những công việc phù hợp với khả năng và kinh nghiệm của ngƣời lao động, tạo điều kiện để ngƣời lao động phát huy hết lợi thế của mình. Nếu tổ chức giao cho ngƣời lao động một công việc thấp hơn so với khả năng kinh nghiệm của họ thì sẽ gây lãng phí lao động. Nếu tổ chức giao cho ngƣời lao động một công việc cao hơn khả năng trình độ của họ thì họ sẽ không hoàn thành tốt công việc đƣợc giao.
* Đặc điểm cá nhân người lao động: Tính cách, tâm lý, sở thích, tuổi tác, giới tính, học vấn, dân tộc, tôn giáo, các quan niệm về giá trị… đều ảnh hƣởng tới động lực lao động của họ. Nhƣ với ngƣời có độ tuổi càng cao thì nhân cách càng hoàn thiện và họ có xu hƣớng suy nghĩ chín chắn và có trách nhiệm hơn, tuổi càng cao con ngƣời càng cận thận và chắc chắn hơn trong hoạt động lao động. * Tình trạng kinh tế của người lao động: Khi cuộc sống càng khó khăn thì ngƣời lao động càng cố gắng làm việc để tăng thu nhập cải thiện đời sống bản thân và gia đình lúc đó khuyến khích tài chính là biện pháp tạo động lực mạnh. Khi đời sống kinh tế của họ đầy đủ thì khuyến khích phi tài chính là biện pháp tạo động lực lao động mạnh nhất.
Vì vậy ngƣời quản lý cần nắm rõ tình trạng kinh tế của ngƣời lao động để thỏa mãn các nhu cầu kinh tế khác nhau để tạo động lực cho ngƣời lao động một cách hiệu quả. Các yếu tố thuộc về công việc * Mức độ chuyên môn hóa công việc: Nếu nhƣ các nhiệm vụ bị chia cắt thành những khâu nhỏ, tách rời nhau và mỗi ngƣời chỉ chịu trách nhiệm một khâu thì ngƣời lao động nhanh chóng cảm thấy công việc của mình là nhàm 8 chán. Một công việc có tính chuyên môn hóa quá cao, đơn điệu làm ngƣời lao động không thấy đƣợc sự hứng thú trong công việc của mình. Muốn tạo động lực cho ngƣời lao động thì cần có các biện pháp làm giảm tính đơn điệu trong công việc và làm giàu công việc kích thích sự thực hiện công việc của ngƣời lao động.
* Mức độ phức tạp của công việc: Những ngƣời lao động có trình độ cao không muốn đảm nhận công việc quá đơn giản không phù hợp với trình độ của họ. Những ngƣời lao động có trình độ thấp khả năng làm việc hạn chế không thể đảm nhận đƣợc công việc quá phức tạp vì vậy ngƣời quản lý cần bố trí nhân lực phù hợp với khả năng của họ mới kích thích đƣợc động lực làm việc của họ. * Tính hấp dẫn của công việc: Ngƣời lao động sẽ cảm thấy chán nản khi nhận đƣợc một công việc không nhƣ mong muốn, không phù hợp với khả năng sở trƣờng của họ và ngƣợc lại. Tính hấp dẫn của công việc tạo nên sự thoả mãn đối với công việc của ngƣời lao động.