Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực lao động trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng tạo động lực lao động tại Công ty Cổ phần Sản xuất Vật liệu Xây dựng Cao Bằng. Chương 3: Giải pháp tăng cường tạo động lực lao động tại Công ty Cổ phần Sản xuất Vật liệu Xây dựng Cao Bằng. Luan van 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm liên quan 1. Nhu cầu, động lực, động cơ Cuộc sống con người yêu cầu nhiều thứ khác nhau. Từ khi sinh ra con người luôn mong muốn có được các yếu tố vật chất, tinh thần để có thể tồn tại, cũng như thỏa mãn các yêu cầu của cá nhân. Trạng thái tâm lý mà khi đó con người cảm thấy thiếu thốn một cái gì đó gọi là nhu cầu.
Nhu cầu luôn là cái mà con người mong muốn có được hay được thỏa mãn. Chính sự mong muốn đó đã thôi thúc họ lao động để đáp ứng được mong muốn của họ. Nói cách khác, nhu cầu cầu là nguồn gốc tạo ra động cơ. Đây là yếu tố bên trong thôi thúc hành động của con người.
Mong muốn càng nhiều thì động cơ càng lớn và tới một mức độ nhất định sẽ tạo ra động lực của con người. Theo Bùi Anh Tuấn (2016), Giáo trình Hành vi tổ chức, Hà Nội, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân thì: “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động” [27, tr. Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc động lực, xong hầu như các quan điểm đều có sự thống nhất ở một điểm: Động lực là yếu tố tâm lý bên trong, thúc đẩy làm cho con người tự giác, nỗ lực, tích cực làm việc để đạt được mục tiêu mong muốn hay thỏa mãn nhu cầu cá nhân của mình.
Động lực bao gồm động lực bên trong và động lực bên ngoài: Động lực bên trong là xuất phát từ chính người lao động hay từ gia đình họ, do hoàn cảnh, điều kiện của từng cá nhân mà họ phải nỗ lực nhiều hay ít. Động lực bên ngoài là do yếu tố từ bên ngoài tác động vào như trong doanh nghiệp, tất cả những lợi ích mà doanh nghiệp hứa hẹn mang lại cho họ Luan van 8 hay thỏa mãn nhu cầu của họ sẽ là các tác nhân chính để người lao động làm việc tích cực hơn. Một mức lương, thưởng, phúc lợi hấp dẫn, một sự ân cần, chu đáo, thái độ tốt của người quản lý hay một môi trường làm việc tốt có thể là tác nhân thôi thúc người lao động làm việc tích cực hay tiêu cực. Động cơ được thể hiện ở: Mục tiêu thu nhập: Đây là mục tiêu hàng đầu của người lao động khi họ tham gia vào quá trình lao động.
Vì thu nhập là nguồn vật chất chủ yếu đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người. Mục tiêu phát triển cá nhân: Là mục tiêu hoàn thiện nhân cách cá nhân con người thông qua hoạt động xã hội. Khi thu nhập đã đảm bảo cuộc sống hàng ngày về mặt vật chất ở một mức nào đó thì người lao động luôn có xu hướng học tập để nâng cao sự hiểu biết cũng như nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Mục tiêu về thỏa mãn hoạt động xã hội: Con người muốn được thể hiện mình thông qua tập thể.
Khi các mục tiêu về thu nhập và mục tiêu phát triển cá nhân đã được đáp ứng thì người lao động luôn có xu hướng tìm cách để khẳng định vị trí của mình trong xã hội thông qua các hoạt động xã hội. Có thể thấy rằng động lực lao động và động cơ lao động có liên quan đến nhau, và để hiểu rõ hơn, sau đây là bảng so sánh giữa động lực và động cơ lao động.1: So sánh giữa động lực lao động và động cơ lao động - Đều là những cái không thể nhìn thấy được, không thể đo lường được, mà chỉ thông qua quan sát hành vi, thái độ của người lao động rồi nhận biết. Giống - Đều chịu sự tác động mang tính chất quyết định từ phía bản thân nhau người lao động. Không ai có thể điều khiển theo ý muốn được mà chỉ có thể tác động một cách nhất định và từ đó bản thân người lao động sẽ ý thức được và thay đổi.
Luan van 9 - Luôn luôn biến đổi, lúc cao, lúc thấp, có khi là triệt tiêu trong bản thân người lao động. Động lực lao động Động cơ lao động - Nói đến động lực lao động là - Nói đến động cơ lao động là nói đến sự biến đổi về mức độ nói đến sự phong phú, đa cao hay thấp, có hay không mà dạng. Có thể có nhiều động cơ thôi. tồn tại cùng một lúc trong họ.
- Chịu sự tác động từ phía bản - Chịu sự tác động lớn từ phía thân người lao động và môi bản thân người lao động, gia Khác trường tổ chức nơi họ làm việc đình của họ và môi trường xã nhau và những chính sách liên quan hội xung quanh. đến bản thân họ. - Thúc đẩy người lao động để họ - Chi phối, thúc đẩy người ta phát triển trong lao động. suy nghĩ và hành động.
- Động lực lao động trả lời cho - Động cơ lao động trả lời cho câu hỏi: Vì đâu mà người lao câu hỏi: Vì sao người lao động động làm việc trong tổ chức có lại làm việc. hiệu quả như vậy.92] Như vậy, giữa động lực lao động và động cơ lao động có thể thấy rằng động lực lao động sẽ bao quát hơn động cơ lao động, động cơ lao động và động lực lao động có mối quan hệ rất bền chặt. Động cơ là cơ sở, là tiền đề để hình thành nên động lực lao động. Động cơ lao động là cái dẫn dắt con người đi tìm một công việc.
Trong quá trình làm việc, dưới tác động của nhiều yếu tố thì động lực lao động có thể xuất hiện. Nếu không có động cơ lao động thì cũng không có động lực lao động. Đến lượt mình, động lực lao động lại có tác động ngược trở lại củng cố động cơ lao động. Chính vì thế nếu nắm được động cơ lao động của người lao động thì sẽ tìm ra biện pháp tạo động lực lao động.
Vì vậy, động lực sẽ ảnh hưởng đến Luan van 10 quyết định của mỗi người. Động lực cũng chính là điểm khác biệt giữa trạng thái thụ động chỉ nghĩ trong đầu về việc cần phải làm và trạng thái Chủ động khi thật sự bắt tay vào làm. Khi có động lực, bất kỳ ai cũng dễ dàng đạt được những thành tích xuất sắc hơn. Chính vì thế mà công ty, các doanh nghiệp cần chú trọng và quan tâm tới động lực.
Tạo động lực lao động - Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2018), giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân có viết: “Động lực lao động là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức. Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực hoạt động đồng thời trong con người và trong môi trường sống và làm việc của con người. Do đó, hành vi có động lực (hay hành vi được thúc đẩy, được khuyến khích) trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự kết hợp tác động của nhiều yếu tố như văn hóa của tổ chức, kiểu lãnh đạo, cấu trúc của tổ chức và các chính sách về nhân lực cũng như sự thực hiện các chính sách đó. Các yếu tố thuộc về cá nhân người lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính họ, chẳng hạn: nhu cầu, mục đích, các quan niệm về giá trị,.
Mỗi hoạt động con người đều hướng vào mục đích nhất định. Khi người lao động tham gia vào quá trình sản xuất có nghĩa là họ muốn thỏa mãn nhu cầu, đòi hỏi, mong muốn mà họ đã có hoặc có nhưng chưa đủ. Sự thỏa mãn đó có thể là vật chất hay tinh thần. Khi con người ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu và mong muốn khác nhau.
Suy cho cùng động lực trong lao động là nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra, như vậy mục tiêu của các nhà quản lý là làm sao tạo ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt kết quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. Luan van 11 Như vậy, tạo động lực lao động chính là tổng hợp các chính sách, biện pháp ứng xử của nhà quản trị doanh nghiệp nhằm tác động đến những mong muốn lợi ích của người lao động, kích thích họ tích cực làm việc để đạt được mục tiêu của tổ chức. Trong đó, các chính sách, biện pháp đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về vật chất và tinh thần. Một số học thuyết liên quan đến tạo động lực lao động 1.
Học thuyết hệ thống nhu cầu của A.Maslow Abraham Maslow sinh ngày 01/04/1908, mất năm 08/05/1970. Ông là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ. Ông là người đáng chú ý nhất với sự đề xuất về Tháp nhu cầu và ông được xem là cha đẻ của chủ nghĩa nhân văn trong Tâm lý học. Năm 1943, Abraham Maslow công bố học thuyết về động lực, một trong những khám phá về mặt tâm lý được biết đến rộng rãi nhất ngày nay.
Nội dung chính của học thuyết giải đáp thắc mắc về tầm quan trọng về tầm quan trọng của việc kết hợp nhiều yếu tố tạo động lực khác nhau. Theo ông, động lực được hình thành từ một người lớn nhất của người đó, gây cản trở và khiến nhũng nhu cầu khác không thể phát triển thêm nữa. Những nhu cầu sinh tồn và tâm lý tối thiểu nằm ở đấy tháp, còn những nhu cầu phức tạp, trừu tượng, mang lý tưởng được đặt ở các bậc cao hơn. Maslow giải thích về cách sắp xếp trên như sau: “Nó thể thể hiện các nhu cầu cơ bản nhất sẽ chiếm quyền điều khiển lý trí và có xu hướng tự tổ chức lại các hoạt động của cơ thể.
Những nhu cầu cao hơn được giảm thiểu, thậm chí bị lãng quên hoặc loại bỏ.