CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm quản trị nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nhân lực và nguồn nhân lực Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn nhân lực (NNL). Tuy nhiên, cho đến nay quan niệm về vấn đề này hầu như chưa thống nhất. Tuỳ theo mục tiêu cụ thể mà người ta có những nhận thức khác nhau về NNL. Một số quan niệm thường được dùng trong thực tiễn như sau.
Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, gồm có thể lực và trí lực. Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế. Thể lực con người tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính, v. Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách, v.
của từng con người (Vũ Ngọc Quân 2012; Nguyễn Vân Điềm, 2014; Phạm Minh Hạc, 2015). Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2012), NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực. Còn Joshi (2013) định nghĩa NNL của tổ chức bao gồm tất cả những nỗ lực, kỹ năng hay khả năng của tất cả những người làm việc cho tổ chức đó. Bất cứ tổ chức nào cũng được tạo thành bởi các thành viên là con người hay NNL của tổ chức.
Do đó, có thể nói NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những lao động làm việc trong tổ chức đó. Nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực thì NNL nằm trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, NNL được hiểu là tổng thể NNL của từng cá nhân con người.
Với tư cách là một NNL của quá trình phát triển, NNL là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định (Đỗ Minh Cường, 2015). NNL của doanh nghiệp (DN) được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò 8 khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. NNL khác với các nguồn lực khác của DN do chính bản chất của con người (Nguyễn Tiệp, 2010; Trần Xuân Cầu, 2012). Nhân viên có năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn bảo vệ quyền lợi của họ, có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của các quản trị gia, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh (Trần Kim Dung, 2018).2 Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực Theo Daft (2016), quản trị nguồn nhân lực (QTNNL) phát triển các chiến lược để tìm kiếm những người tốt nhất, thúc đẩy sự phát triển các kỹ năng và kiến thức của họ thông qua các chương trình đào tạo và các cơ hội phát triển bản thân cũng như nghề nghiệp.
Và cung cấp các khoản thù lao, phúc lợi nhằm hỗ trợ cho việc chia sẻ kiến thức và khen thưởng phù hợp cho mọi người dựa trên sự đóng góp của họ cho tổ chức. QTNNL là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên (Trần Kim Dung, 2018). QTNNL nghiên cứu những việc có thể thực hiện hay nên thực hiện cốt làm sao để những người lao động làm việc có năng suất và cảm thấy hài lòng với công việc hơn (Ivancevich, 2010). Hay QTNNL là việc sử dụng, bố trí lực lượng lao động hiện thời của một tổ chức vào trong các bộ phận, vị trí và công việc cụ thể, để thực hiện các nhiệm vụ tương ứng nhằm đạt tới các mục tiêu mà tổ chức đã vạch ra một cách hiệu quả nhất (Nguyễn Thanh Hội, 2007).
QTNNL còn là sự phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển chọn, duy trì, phát triển, động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho NNL thông qua tổ chức, nhằm đạt được chiến lược và định hướng của tổ chức. QTNNL là thiết kế các chính sách và thực hiện các lĩnh vực hoạt động nhằm làm cho con người đóng góp giá trị hữu hiệu nhất cho tổ chức, bao gồm các lĩnh vực như hoạch định NNL, phân tích và thiết kế công việc, chiêu mộ và lựa chọn, đánh giá thành tích, đào tạo và phát triển, thù lao, sức khỏe và an toàn cho nhân viên, và tương quan lao động, v.3 Vai trò của quản trị nguồn nhân lực Hoạt động QTNNL có tầm quan trọng đặc biệt đối với các tổ chức nói chung, và với các nhà quản trị nói riêng. Với tính chất đặc biệt, NNL khác với các nguồn lực khác của DN do chính bản chất của con người. Do đó, theo Trần Kim Dung (2018), nguồn lực này có những vai trò quan trọng cho quá trình phát triển của tổ chức: 9 ✓ Thứ nhất, nó giúp cho các nhà quản trị hoàn thành nhiệm vụ được giao và đạt mục tiêu thông qua người khác một cách có hiệu quả nhất.
Mỗi nhà quản trị đều có khả năng xây dựng kế hoạch hoàn chỉnh, thiết kế cơ cấu tổ chức với các bộ phận, đơn vị rõ ràng, có trong tay các nguồn tài nguyên từ đó giúp cho quá trình thực hiện công việc đạt kết quả tốt. ✓ Thứ hai, QTNNL tạo điều kiện phát triển kỹ năng và nâng cao năng suất lao động ở mỗi nhân viên. Mỗi con người là một thực thể sống có ý thức và là một thế giới riêng biệt rất khác nhau về tâm sinh lý, hoàn cảnh cá nhân, cá tính, v. Do đó, muốn họ làm việc tốt trước hết phải hiểu những nhu cầu, mong muốn của họ trong công việc để có phương pháp tác động phù hợp nhằm nâng cao năng suất lao động của họ cho tổ chức.
✓ Thứ ba, chất lượng QTNNL quyết định hiệu quả và sự thành đạt của tổ chức. QTNNL không chỉ đơn giản là sự bố trí con người phù hợp với một vị trí tương ứng nào đó của tổ chức. Điều quan trọng là từ hoạt động quản trị những tố chất mới của lao động được sản sinh và chính điều này là nhân tố cơ bản, đảm bảo sự thắng lợi và phát triển liên tục của tổ chức trước môi trường không ngừng thay đổi.4 Mục tiêu quản trị nguồn nhân lực QTNNL nghiên cứu các vấn đề về quản trị con người trong các tổ chức ở tầm vi mô và có hai mục tiêu cơ bản (Trần Kim Dung, 2018): - Sử dụng có hiệu quả NNL nhằm làm tăng năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức. - Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa các năng lực cá nhân, được kích thích, động viên nhiều nhất tại nơi làm việc và trung thành, tận tâm với DN.5 Đánh giá hoạt động quản trị nguồn nhân lực Có nhiều phương pháp đánh giá hoạt động quản trị nguồn nhân lực.
Trong thực tế, việc sử dụng hệ thống các chỉ tiêu hiệu quả chính (Key Performance Indicator- KPI) thường được sử dụng. KPI là một hệ thống đo lường và đánh giá hiệu quả công việc là công cụ đo lường, đánh giá hiệu quả công việc được thể hiện qua số liệu, tỷ lệ, chỉ tiêu định lượng, nhằm phản ảnh hiệu quả hoạt động của các tổ chức hoặc bộ phận chức năng hay cá nhân. KPI là một công cụ hiện đại giúp các nhà quản lý triển khai chiến lược lãnh đạo thành các mục tiêu quản lý và chương trình hành động cụ thể cho từng bộ phận, từng nhân viên. Vì 10 vậy, KPI áp dụng cho nhiều mục đích: quản lý hệ thống công việc của Công ty/đơn vị, tự quản lý công việc phòng/bộ phận và tự quản lý công việc của cá nhân.
Mục tiêu khi xây dựng KPI phải hướng đến đảm bảo được tiêu chí SMART: S (Specific): cụ thể; M (Measurable): Đo lường được; A (Achievable): Có thể đạt được; R (Realistic): Thực tế và T (Timebound): Có thời hạn cụ thể, thì hiệu quả của đánh giá thực hiện công việc sẽ rất cao. Ưu điểm khi sử dụng KPI trong đánh giá thực hiện công việc: Nó có thể là một cách rất nhanh cho thấy thành quả hiện thời của một mục đích hoặc một mục tiêu chiến lược; các quyết định có thể được thực hiện nhanh hơn khi có những đo lường nhận thấy được và chính xác đi kèm theo. Có thể giúp khâu quản lý nhận biết thành quả của công ty, điện lực/phòng/ban hoặc một nhân viên nào đó của mình để từ đó có hướng khuyến khích, tạo động lực cho nhân viên; một đội nhóm có thể làm việc chung với nhau theo những mục đích đo lường được; Đưa ra các chỉ tiêu có thể đo lường được, từ đó việc đánh giá thực hiện công việc sẽ cụ thể hơn và dễ thực hiện hơn mà ít có những kiến nghị, bất đồng. Nhược điểm khi sử dụng hệ thống KPI: Nếu các chỉ số KPI xây dựng không đạt được tiêu chí SMART thì nó không chỉ gây ảnh hưởng xấu cho hệ thống đánh giá thực hiện mà còn gây hậu quả xấu cho hệ thống quản trị của công ty nói chung; Nếu mục tiêu không đạt được tiêu chí Specific (cụ thể) thì người lao động không biết mình phải làm gì và làm như thế nào để đạt được hiệu quả công việc như mong muốn; Các chỉ số không đạt tiêu chí Measurable (đo lường được) thì không còn ý nghĩa đo lường kết quả thực hiện công việc; các chỉ số KPI không đạt được tiêu chí Achievable (có thể đạt được) và Realistic (thực tế) thì nhân viên không thể đạt được mục tiêu dù đã cố gắng hết mình.
Điều này dẫn đến tâm lý thất vọng, chán nản và không muốn làm việc; Các chỉ số KPI không có hạn định cụ thể: người lao động không biết công việc này phải làm trong thời gian bao lâu hay khi nào phải hoàn thành.