CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Các khái niệm cơ bản về quản trị nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn nhân lực hay còn gọi là nguồn lực của con người. Khái niệm này xuất hiện vào thập niên 80 của thế kỷ XX khi mà có thay đổi cơ bản về phương thức quản lý và sử dụng con người trong kinh tế lao động. Nguồn nhân lực chính là nguồn lực con người và cũng là yếu tố đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn nhân lực có thể hiểu theo nhiều hướng khác nhau, cụ thể như sau: Nguồn nhân lực được hiểu với tư cách là tổng hợp cá nhân những con người tham gia vào quá trình lao động sản xuất, tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được sử dụng vào quá trình lao động sản xuất.
Theo cách hiểu như trên thì nguồn nhân lực là những người bắt đầu bước vào độ tuổi lao động trở lên và tham gia vào nền sản xuất xã hội. Khái niệm NNL được sử dụng rộng rãi ở nước Việt Nam từ lúc bắt đầu công cuộc đổi mới. Điều này được thể hiện trong các công trình nghiên cứu về NNL điển hình như sau: Theo Phạm Minh Hạc (2001): “Nguồn nhân lực là toàn bộ những người lao động đang có khả năng tham gia vào các quá trình lao động và các thế hệ nối tiếp sẽ phục vụ cho xã hội”. Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012): “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực.” Theo Trần Kim Dung (2013): “Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở cá nhân với vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định.” Theo Manmohan Joshi (2013): “Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm tất cả những nỗ lực, kỹ năng hay khả năng của tất cả những người làm việc cho tổ chức đó.” Dựa trên những khái niệm đã nêu ở trên, có thể thấy được có các khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng các khái niệm này đều có một điểm chính là: Nguồn nhân lực của tổ chức bao gồm toàn bộ người lao động làm việc trong tổ chức và khả năng làm việc của họ.
Đồng thời, có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu 6 nhất định. Qua đó ta thấy khả năng làm việc của con người tùy thuộc vào thể lực và trí lực gồm sức khỏe, kiến thức và kinh nghiệm… 1.2 Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực Theo Trần Kim Dung (2011): “Quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên”. Ivancevich (2010): “Quản trị nguồn nhân lực nghiên cứu những việc có thể thực hiện hay nên thực hiện cốt làm sao để những người lao động làm việc có năng suất và cảm thấy hài lòng với công việc hơn”. Dựa vào các quan điểm ở trên ta có thể nói rằng: Quản trị NNL đóng vai trò quan trọng với sự thành công của một tổ chức.
Quản trị NNL bao gồm các quá trình hoạch định, đánh giá, quản lý và sử dụng có hiệu quả NNL để đạt được mục tiêu của tổ chức. Tổ chức có thể có lợi thế về cạnh tranh nếu tận dụng được người lao động làm họ cảm thấy hài lòng và sẵn sàng cống hiến tâm huyết vì công việc từ đó có thể đạt được mục tiêu đã đề ra của tổ chức đó.3 Mục tiêu của quản trị nguồn nhân lực: Mục tiêu quản trị nguồn nhân lực gồm: + Mục tiêu xã hội: Là tổ chức hoạt động vì lợi ích của cộng đồng, lợi ích của xã hội và tạo điều kiện việc làm cho người lao động góp phần cho sự phát triển của xã hội, của người lao động chứ không phải chỉ tập trung lo vì lợi ích của tổ chức đó. + Mục tiêu phát triển tổ chức: Quản trị NNL nhằm để tổ chức đạt được các mục tiêu và chiến lược mình đề ra thông qua việc sử dụng, khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực. + Mục tiêu thực hiện chức năng: Các phòng chuyên môn đều thực hiện chức năng và nhiệm vụ riêng biệt, chính vì thế các phòng chuyên môn phải có sự đóng góp cho tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung.
+ Mục tiêu cá nhân: Là việc mà nhà quản trị phải luôn quan tâm và tạo điều kiện cho người lao động nâng cao năng lực cá nhân, tạo ra điều kiện về vật chất lẫn tinh thần vừa có thể giúp NLĐ đạt được mục tiêu cá nhân, làm kích thích tăng năng suất lao động, duy trì sự gắn bó của người lao động đối với tổ chức.2 Các nhóm chức năng cơ bản của quản trị nguồn nhân lực 7 Đối với hoạt động quản trị NNL có sự liên quan đến tất cả các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của NLĐ để đạt được hiệu quả cho cả tổ chức và NLĐ. Trong thực tế, các hoạt động này vô cùng đa dạng, phong phú theo đặc điểm về cơ cấu tổ chức, tài chính, công nghệ, nhân lực… Hầu hết tổ chức đều thực hiện các hoạt động điển hình như: lập kế hoạch tuyển dụng, bố trí nhân lực, đào tạo, khen thưởng, trả lương… Các hoạt động chính của quản trị NNL được tác giả tạm chia thành ba nhóm chức năng chủ yếu, Ta có sơ đồ như a sau: Thu hút nguồn nhân lực Mục tiêu quản lý nguồn nhân lực Đào tạo Duy trì phát triển nguồn nguồn nhân lực nhân lực Sơ đồ 1.1: Quản trị nguồn nhân lực và các thành phần chức năng (Nguồn: Trần Kim Dung (2011)) 1.1 Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực Nhóm chức năng thu hút NNL chú trọng đến việc bảo đảm đủ số lượng CBCC và nhân viên hợp đồng với trình độ đáp ứng được yêu cầu của Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai. Đảm bảo việc tuyển dụng đúng người có đầy đủ trình độ và phẩm chất để thực hiện công việc. Sở phải căn cứ vào kế hoạch tuyển dụng, chỉ tiêu, đề án vị trí việc làm… đã được giao 8 và thực trạng sử dụng NNL trong Sở nhằm xác định được những vị trí nào cần tuyển dụng thêm.
Thực hiện theo phân tích công việc và sử dụng các tiêu chuẩn tương ứng nhằm xác định số lượng lao động cần tuyển dụng thêm. Có thể sử dụng phỏng vấn và các hình thức trắc nghiệm để tìm được ứng viên tốt nhất cho mục tiêu đã đề ra. Chức năng của tuyển dụng gồm các hoạt động như: hoạt động hoạch định NNL, hoạt động phân tích, hoạt động dự báo, hoạt động phỏng vấn, hoạt động kiểm tra bằng trắc nghiệm, hoạt động thu thập, hoạt động lưu trữ và xử lý các thông tin về NNL của Sở Xây dựng tỉnh Đồng Nai. Do vậy, nhóm chức năng trên bao gồm các hoạt động như sau: 1.1 Hoạch định nguồn nhân lực Có thể nói hoạch định NNL là quá trình xem xét các nhu cầu về NNL một cách hệ thống trong tổ chức ngắn hạn hoặc dài hạn, trong đó có phòng ngừa về rủi ro từ đó xây dựng kế hoạch tuyển dụng, đào tạo và phát triển NNL cho tổ chức.
Hoạch định NNL giúp tổ chức chủ động thấy được các biến động và thực trạng NLL nhằm có những sự điều chỉnh cho phù hợp. Quá trình hoạch định NNL cần thực hiện trong mối liên hệ đối với quá trình hoạch định và thực hiện các chiến lược, chính sách của tổ chức. Việc dôi dư lao động sẽ làm cho chi phí về nhân sự tăng cao và gây ra năng suất làm việc không được hiệu quả tác động trực tiếp đến Sở. Bên cạnh đó, việc thiếu nhân sự làm tăng chi phí làm việc ngoài giờ, không có đủ nhân sự để đáp ứng công việc.
Hoạch định NNL tốt giúp Sở giảm thiểu về dôi dư hay thiếu nhân lực từ đó giảm chi phí phát sinh thêm. Ta có quá trình hoạch định NNL được thực hiện theo các bước như sau: Bước 1: Phân tích về môi trường, lựa chọn chiến lược và xác định mực tiêu của tổ chức. Bước 2: Phân tích về hiện trạng quản trị NNL của tổ chức. Bước 3: Dự báo về khối lượng của công việc.
Bước 4: Dự báo nhu cầu về NNL. Bước 5: Phân tích quan hệ về cung cầu và khả năng điều chỉnh NNL. Bước 6: Thực hiện các chương trình như: đào tạo và phát triển, trả công, thu hút… 9 Quá trình hoạch định NNL được thực hiện theo sơ đồ như sau: Phân tích về môi trường, lựa chọn chiến lược và xác định mục tiêu của tổ chức Dự báo về khối lượng của công việc Phân tích về hiện trạng quản trị NNL của tổ chức Dự báo nhu cầu về NNL Phân tích quan hệ về cung cầu và khả năng điều chỉnh NNL Thiết lập về các Xác định các chương chính sách cụ thể trình hành động Thực hiện các chương trình như: đào tạo và phát triển, trả công, thu hút… Kiểm tra, đánh giá về tình hình thực hiện và cải tiến Sơ đồ 1.2: Quy trình hoạch định nguồn nhân lực (Nguồn: Trần Kim Dung (2011)) Richard L. Daft (2016): “Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình dự báo nhu cầu nguồn nhân lực và tiến hành thực hiện sự cân đối giữa kỳ vọng giữa công việc còn thiếu với đặc trưng của nhân viên”.
Ivancevich (2010): “Hoạch định nguồn nhân lực là cả một quá trình là một hệ thống kế hoạch. Nó chỉ ra cách một tổ chức ước tính việc cung cấp và nhu cầu về nguồn nhân lực trong tương lai”. Trần Kim Dung (2011): “Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu nguồn nhân lực, đưa ra các chính sách và thực hiện các chương trình hoạt động đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ nguồn nhân lực với các phẩm chất, kỹ năng phù hợp để thực hiện công việc có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao”. 10 Ngoài ra còn một số định nghĩa thể hiện: hoạch định NNL là một quá trình nghiên cứu, phân tích và điều chỉnh theo từng thời kỳ đồng thời có thể dự báo được NNL đảm bảo cho tổ chức đáp ứng được nguồn nhân lực kịp thời.
Cụ thể như sau: John M. Ivancevich (2010): “Hoạch định nguồn nhân lực là cả một quá trình là một hệ thống kế hoạch. Nó chỉ ra cách một tổ chức ước tính việc cung cấp và nhu cầu về nguồn nhân lực trong tương lai”.