CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC 1. Cơ sở lý luận về quản lý nguồn nhân lực 1. Các khái niệm cơ bản 1. Nhân lực Nhân lực chính là sức lực nằm trong mỗi con người, để con người có thể hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người. Cho đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động hay còn gọi là con người có sức lao động. Cũng có thể định nghĩa nhân lực là nguồn lực xuất phát từ trong chính bản thân của từng cá nhân con người. Nhân lực bao gồm thể lực và trí lực.
Nguồn lực này ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể bên ngoài của con người. Cho đến một ngày, nguồn lực này đủ lớn, đáp ứng các điều kiện để con người có thể tham gia vào lao động, sản xuất (Trần Xuân Cầu, 2019). Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, nguồn lực đó được xem xét ở hai khía cạnh: Thứ nhất: Ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực. Nguồn nhân lực nằm trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác.
Thứ hai: Nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn nhân lực của từng cá nhân con người. Với tư cách là một nguồn nhân lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định. Nguyễn Tiệp (2005) cho rằng “nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Còn với tư cách là khả năng đảm đương lao động chính của xã hội thì NNL được hiểu là bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, (theo Bộ luật lao động năm 2019, có hiệu lực từ 01/01/2021 mới ban hành độ tuổi lao động đối với Nam giới là từ 15 đến 62 tuổi (2028), với nữ giới là từ 15 đến 60 tuổi (2035)).
Trần Xuân Cầu (2019) nêu rõ “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”. Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc:"Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng". Từ những khái niệm trên cho thấy nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hòa các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức, tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Nguồn nhân lực trong tổ chức Những khái niệm nêu ở trên chỉ nguồn nhân lực ở phạm vi vĩ mô của nền kinh tế.
Tuy nhiên đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong một tổ chức. Do vậy, cần tìm hiểu thêm một số khái niệm về nguồn nhân lực trong tổ chức. Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2013) “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”. Đó là toàn bộ con người và các hành động của con 7 người trong tổ chức đó tạo thành các hoạt động – phần không thể thiếu trong sự tồn tại và phát triển của tổ chức.
Theo tác giả Trần Kim Dung (2011): “Nguồn nhân lực của một tổ chức hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực là loại nguồn lực không giống với bất kỳ nguồn lực nào khác, là loại nguồn lực mà trong đó con người liên kết được với nhau, thực hiện vai trò của con người trong việc thực hiện các mục tiêu của tổ chức. Còn các nguồn lực khác thì không thể tự kết nối, hình thành các mối liên kết nếu không có con người”. Như vậy xét theo góc độ trong một tổ chức thì: nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm trong tổ chức đó có sức khỏe và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt các mục tiêu của tổ chức nếu được động viên, khuyến khích phù hợp.
Quản lý nguồn nhân lực 1. Khái niệm quản lý nguồn nhân lực Quản lý nguồn nhân lực gắn liền với mọi tổ chức. Quản lý nhân lực là một thành tố quan trọng của chức năng quản lý, nó có gốc rễ và các nhánh trải rộng khắp nơi trong mọi tổ chức. Quản lý nhân lực khác với quản lý nhân sự.
Quản lý nhân sự trong một tổ chức được hiểu là quản lý những con người trong tổ chức đó, nhưng nghiêng về khía cạnh hành chính, thường là việc áp dụng khá cứng nhắc những quy định, nguyên tắc của tổ chức như tuyển dụng, trả lương,. trong lĩnh vực quản lý con người. Trong khu vực nhà nước, một số quy định về quản lý con người được quyết định bởi các chính sách của Nhà nước, do vậy việc áp dụng các chính sách này trong các cơ quan quản lý nhà nước gặp rất nhiều khó khăn và không hợp lý cho họ, do chưa tính đến nhu cầu của tổ chức, nhu cầu của bản thân cá nhân người lao động. Trong khi đó, quản lý nguồn nhân lực có nội hàm rộng và khái quát hơn.
Nó vừa có tầm vĩ mô, phạm vi quản lý là nguồn nhân lực của một quốc gia, vừa 8 ở tầm vi mô trong một tổ chức, quản lý nguồn nhân lực không phải theo nghĩa hành chính, áp đặt chính sách mà là sự tìm kiếm mối liên hệ giữa công việc và người thực hiện công việc đó, cải thiện nó, nhằm mục đích đạt hiệu quả tối đa cho tổ chức trên cơ sở sử dụng một cách có hiệu quả nhất nguồn nhân lực. Hay nói một cách cụ thể hơn, “Quản lý nguồn nhân lực trong các cơ quan quản lý Nhà nước là việc thiết kế và xây dựng tất cả các chính sách và thực hiện các hoạt động về thu hút, duy trì và phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức nhằm đáp ứng yêu cầu về số lượng, chất lượng nguồn nhân lực, thông qua đó đạt được kết quả tối ưu cho người lao động và tổ chức”. Ngoài ra, việc quản lý một số bộ phận đặc thù trong nguồn nhân lực trong cơ quan nhà nước như công chức được định nghĩa như sau: “Quản lý công chức là sự tác động có tổ chức và bằng pháp luật của nhà nước đối với đội ngũ công chức vì mục tiêu bảo vệ và phát triển xã hội theo định hướng đã định”. Việc quản lý công chức hành chính mang tính nhà nước thông qua thể chế quản lý công chức của Nhà nước.
Thể chế quản lý công chức là hệ thống các quy phạm, chuẩn mực được ban hành dưới dạng văn bản pháp luật để quy định hướng dẫn thực hiện các nội dung quản lý công chức một cách thống nhất. Thông qua thể chế quản lý công nhà nước có thể tiến hành việc xây dựng, phát triển và quản lý công chức đáp ứng yêu cầu từng giai đoạn phát triển. Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về quản lý nguồn nhân lực trong cơ quan quản lý Nhà nước như sau: Quản lý nguồn nhân lực trong các cơ quan quản lý nhà nước là tất cả các hoạt động của một tổ chức nhằm áp dụng các nguyên tắc pháp định nhằm xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và gìn giữ một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của cơ quan nhà nước cả về phương diện định lượng (số lượng nguồn nhân lực) và định tính (năng lực của nguồn nhân lực và động cơ lao động). Mục tiêu của quản lý nguồn nhân lực Quản lý nguồn nhân lực nhằm hướng tới hai mục tiêu chính là: 9 Thứ nhất, sử dụng có hiệu quả nhân lực nhằm tăng hiệu quả lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức, đáp ứng được các yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài của tổ chức.
Thứ hai, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên được phát huy tối đa các năng lực cá nhân, từ đó họ phấn khởi làm việc và trung thành với tổ chức. Đặc điểm của quản lý nguồn nhân lực - Mang tính khoa học, tính nghệ thuật: về tính khoa học là hệ thống các kiến thức, nguyên tác và phương pháp khoa học được đúc kết và kiểm nghiệm qua thực tế, còn về tính nghệ thuật là cách thức vận dụng linh hoạt kiến thức, phương pháp, kỹ năng quản lý nguồn nhân lực vào thực tế. - Có tác động sâu rộng và liên quan đến mọi thành phần, mọi lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, xã hội, .Quản lý nguồn nhân lực thực chất là quản lý con người thông qua các công cụ, phương pháp để đạt được hiệu quả cao nhất của tổ chức. - Có tính chất đặc biệt, tính phối hợp và tương tác cao.
Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý đều là con người, khác với các nội dung khác chủ thể quản lý là con người còn đối tượng quản lý là sự vật, hiện tượng. với đặc điểm này để đạt được mục đích, hiệu quả phải có sự phối hợp, tương tác qua lại giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, mối quan hệ hai chiều, khi không có được đặc tính này thì quá trình quản lý không được hình thành. - Mang tính chủ động và sáng tạo, căn cứ tình hình đặc điểm, cũng như các yếu tố xung quanh để đưa ra các biện pháp phù hợp.