phần Mở đầu và Kết luận, luận văn bao gồm 3 chƣơng, kèm theo là Phụ lục và Tài liệu tham khảo Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chiến lƣợc kinh doanh Chƣơng 2: Thực trạng chiến lƣợc kinh doanh ở công ty Cổ phần Giải pháp và Dịch vụ Phần mềm Nam Việt hiện nay. Chƣơng 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện chiến lƣợc kinh doanh ở công ty Cổ phần Giải pháp và Dịch vụ Phần mềm Nam Việt Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC KINH DOANH Trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ CNTT nói chung và công nghiệp phần mềm nói riêng thì lợi thế kinh doanh có thể đạt đƣợc thông qua các nhân tố nhƣ tiềm lực tài chính, công nghệ, sức mạnh nguồn nhân lực, sự hoàn thiện của các quy trình nghiệp vụ, sự hoàn thiện và thích hợp về cơ cấu tổ chức bộ máy để từ đó tạo ra một thƣơng hiệu và danh tiếng cho doanh nghiệp, cũng nhƣ các mối quan hệ với khách hàng. Môi trƣờng kinh doanh một khi càng trở nên hấp dẫn thì áp lực cạnh tranh sẽ ngày càng gia tăng, việc nghiên cứu cơ sở lý luận về chiến lƣợc và chiến lƣợc kinh doanh nhằm hƣớng tới phân tích đánh giá, xây dựng và lựa chọn chiến lƣợc kinh doanh đối với Công ty Cổ phần giải pháp và Dịch vụ phần mềm Nam Việt là nội dung chính đƣợc đề cập tại chƣơng này. Chiến lƣợc kinh doanh 1.
Khái niệm chiến lƣợc Thuật ngữ chiến lƣợc đầu tiên đƣợc sử dụng trong lĩnh vực quân sự. Dần dần, chiến lƣợc đƣợc sử dụng trong những lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội. Thuật ngữ chiến lƣợc là sự kết hợp của từ “chiến”, nghĩa là chiến đấu, tranh giành và từ “lƣợc”, nghĩa là mưu, tính. Nhƣ vậy, hiểu đơn giản thì chiến lược là những mưu tính nhằm chiến đấu và giành chiến thắng.
Hệ thống chiến lƣợc đang đƣợc nghiên cứu ở Việt Nam hiện nay bao gồm: chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, chiến lƣợc phát triển các ngành và lĩnh vực, chiến lƣợc phát triển các lãnh thổ (vùng lớn, vùng kinh tế trọng điểm, tỉnh, thành phố), chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp. Giữa các chiến lƣợc đó có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trƣớc khi nghiên cứu khái niệm chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp, cần đề cập đến các chiến lƣợc này. Khái niệm về các bộ phận chiến lƣợc hiện đang có nhiều ý kiến khác nhau, tuỳ theo cách tiếp cận.
Tuy nhiên, về cơ bản có thể hiểu các khái niệm chiến lƣợc nhƣ sau: Chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội đất nƣớc là một bản luận cứ có cơ sở khoa học, xác định mục tiêu, nguồn lực, động lực và đƣờng hƣớng phát triển cơ bản của đất nƣớc trong khoảng thời gian 10 năm hoặc dài hơn, là căn cứ để hoạch định các chính sách và kế hoạch phát triển. Chiến lƣợc xác định tầm nhìn của một quá trình phát triển mong muốn và sự nhất quán về con đƣờng và các giải pháp cơ bản để thực hiện. Chiến lƣợc là cơ sở cho xây dựng các quy hoạch và các kế hoạch phát triển trung hạn và ngắn hạn. Trong quy trình kế hoạch hoá, chiến lƣợc đƣợc coi nhƣ một định hƣớng của kế hoạch trong dài hạn.
Chiến lƣợc phát triển ngành là một bản luận chứng có cơ sở khoa học, xác định mục tiêu, phƣơng hƣớng và các giải pháp cơ bản cho phát triển ngành trong khoảng thời gian 10 năm hoặc dài hơn, là căn cứ để hoạch định các chính sách và kế hoạch phát triển ngành. Chiến lƣợc phát triển ngành là cơ sở cho xây dựng quy hoạch và các kế hoạch phát triển ngành (trung hạn và ngắn hạn). Chiến lƣợc phát triển ngành còn là cơ sở quan trọng của chiến lƣợc doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nƣớc. Chiến lƣợc phát triển lãnh thổ là một bản luận chứng có cơ sở khoa học, xác định mục tiêu, phƣơng hƣớng và các giải pháp cơ bản cho phát triển lãnh thổ trong khoảng thời gian 10 năm hoặc dài hơn, là căn cứ để hoạch định các chính sách và kế hoạch phát triển lãnh thổ.
Chiến lƣợc này cũng là cơ sở quan trọng cho hoạch định chiến lƣợc của các doanh nghiệp nhà nƣớc địa phƣơng, hoặc doanh nghiệp nhà nƣớc trung ƣơng hoạt động tại vùng lãnh thổ. Chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc tiếp cận theo hai phƣơng diện: truyền thống và hiện đại. Theo quan niệm truyền thống: chiến lƣợc đƣợc xem nhƣ là kế hoạch tổng thể, dài hạn của một tổ chức nhằm đạt tới các mục tiêu lâu dài. Alfred Chandler, trƣờng kinh doanh Havard cho rằng, chiến lƣợc là việc xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của một doanh nghiệp và thực hiện chƣơng trình hành động cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt đƣợc những mục tiêu ấy.
Nhƣ vậy, tƣ tƣởng thể hiện rõ ràng trong quan niệm của giáo sƣ Chandler là quá trình hoạch định có tính sáng suốt (rational planning). Doanh nghiệp đƣợc mô tả dƣới dạng lựa chọn những mục đích cho mình, xác định chƣơng trình hành động (chiến lƣợc) để có thể hoàn thành tốt nhất những mục đích đó và phân bổ những nguồn lực tƣơng ứng. Quin, trƣờng đại học Dartmouth cũng cho rằng, chiến lƣợc là mẫu hình hoặc kế hoạch của một tổ chức để phối hợp những mục tiêu chủ đạo, các chính sách và thứ tự hành động trong một tổng thể thống nhất. Đồng quan điểm với A.
Quin là nhà nghiên cứu Wuyliam F. Glueck, ông đƣa ra phát kiến: chiến lƣợc là một kế hoạch thống nhất, toàn diện và phối hợp, đƣợc thiết kế để đảm bảo rằng những mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp đạt đƣợc thành tựu. Phƣơng thức tiếp cận truyền thống có ƣu điểm là giúp các doanh nghiệp dễ hình dung ra những công việc cần làm để hoạch định đƣợc chiến lƣợc, đồng thời cũng cho các doanh nghiệp thấy đƣợc lợi ích của chiến lƣợc với phƣơng diện là kế hoạch dài hạn. Tuy nhiên, trong điều kiện môi trƣờng kinh doanh bất định nhƣ ngày nay đã cho thấy nhƣợc điểm của cách tiếp cận truyền thống, bởi vì nó trở nên khó ứng phó với các biến động khôn lƣờng của môi trƣờng kinh doanh.
Theo quan niệm tiếp cận hiện đại: chiến lƣợc có thể rộng lớn hơn những gì mà doanh nghiệp dự định hoặc đặt kế hoạch để thực hiện. Đại diện tiêu biểu cho trƣờng phái này là Henry Mintzberg của trƣờng đại học McGill. Ông đã phê phán quan niệm cổ điển, rằng cách tiếp cận đó đã ngầm thừa nhận một giả thiết không đúng là chiến lƣợc doanh nghiệp luôn là kết quả của quá trình kế hoạch hoá có tính toán dự định từ trƣớc. Mintzberg cho rằng, chiến lƣợc là một mẫu hình trong dòng chảy các quyết định và chƣơng trình hành động (strategy as a pattern in a stream of decisions or actions).
Mẫu hình có thể là sản phẩm của bất kỳ kiểu chiến lƣợc nào - chiến lƣợc đƣợc thiết kế từ trƣớc và thực tế tiến hành hoặc chiến lƣợc đột biến. Tƣ tƣởng này đƣợc thể hiện nhƣ ở hình 1.1: Mô hình chiến lƣợc của H. Cách tiếp cận hiện đại có ƣu điểm là thiên về phản ứng linh hoạt trƣớc những biến động của môi trƣờng kinh doanh, đồng thời cho phép tận dụng khả năng sáng tạo của mọi ngƣời trong doanh nghiệp. Nhƣợc điểm của nó là đòi hỏi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải có khả năng đánh giá đƣợc giá trị của các chiến lƣợc đột biến.
Điều này có nghĩa là chiến lƣợc đột biến có thể không đƣợc chấp nhận do hạn chế về trình độ cũng nhƣ khả năng thu thập thông tin của lãnh đạo doanh nghiệp. Qua các cách tiếp cận về chiến lƣợc (truyền thống, hiện đại) cho thấy, mặc dù phê phán quan niệm tiếp cận cổ điển nhƣng các đại diện của trƣờng phái hiện đại đều thừa nhận rằng vẫn phải có chiến lƣợc dự định. Bổ sung quan trọng của cách tiếp cận hiện đại là chiến lƣợc phải mang “tính động” nhằm thích nghi với môi trƣờng biến động khó dự báo chính xác ngày nay. Thực tế cũng cho thấy, chiến lƣợc kinh doanh của hầu hết các doanh nghiệp đều có sự kết hợp giữa dự định và đột biến.
Từ đó có thể rút ra khái niệm sau: chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp là chuỗi các quyết định nhằm định hướng phát triển và tạo ra thay đổi về chất bên trong doanh nghiệp. Khái niệm này ngoài sự kế thừa hai quan niệm truyền thống và hiện đại còn làm rõ vai trò thực sự của chiến lƣợc kinh doanh. Chiến lƣợc kinh doanh không chỉ giúp doanh nghiệp giành thắng lợi trong cạnh tranh mà còn phải làm cho doanh nghiệp phát triển về chất ở mức độ cao hơn. Chính vì vậy trong thực tiễn ngƣời ta thƣờng gọi chiến lƣợc kinh doanh là chiến lƣợc phát triển sản xuất kinh doanh.
Nội dung chiến lƣợc kinh doanh Theo khái niệm chiến lƣợc kinh doanh thì nội dung của chiến lƣợc kinh doanh phải chứa đựng mục tiêu cơ bản, lâu dài mà doanh nghiệp cần vƣơn tới cộng với những giải pháp chiến lƣợc để thực hiện mục tiêu đề ra. Mục tiêu chiến lược. Mục tiêu chiến lược phải thể hiện những đích mà doanh nghiệp mong đợi sẽ đạt được khi kết thúc giai đoạn chiến lược. Mục tiêu phải thể hiện những thay đổi về chất của doanh nghiệp, trong đó phải chứa đựng những mục tiêu cụ thể như hiệu quả, đa dạng hoá, đảm bảo xã hội v.
Để cụ thể hoá, bên cạnh mục tiêu tổng quát cần phải có chỉ tiêu chiến lược như tăng trưởng, thị phần, doanh thu, lợi nhuận v. Giải pháp chiến lược. Để thực hiện được các mục tiêu chiến lược cần phải có các giải pháp chiến lược. Các giải pháp chiến lược là sự thể hiện khả năng phân bổ nguồn lực của doanh nghiệp và lựa chọn trọng điểm đột phá.
Các giải pháp này thường đi theo các chức năng như nguồn lực, công nghệ, đầu tư, sản phẩm, thị trường v. Việc lựa chọn đúng giải pháp chiến lược có tác dụng quyết định đến tính khả thi của chiến lược kinh doanh. Các loại chiến lƣợc kinh doanh 1. Dẫn đầu về chi phí thấp Phấn đấu trở thành ngƣời cung cấp có giá thành thấp trong ngành là một cách tiếp cận cạnh tranh mạnh mẽ tại các thị trƣờng - nơi ngƣời mua nhạy cảm về giá.
Mục đích là mở ra ƣu thế bền vững về giá trƣớc các đối thủ cạnh tranh và sau đó sử dụng ƣu thế giá thấp của công ty làm cơ sở buộc đối thủ cạnh tranh phải bán phá giá và giành đƣợc thị phần của họ; hoặc để thu đƣợc chênh lệch lãi bán cao theo giá thị trƣờng hiện thời.