PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Luật đất đai đầu tiên của Việt Nam được ban hành đã khẳng định: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng”. Đất đai có vai trò quan trọng như vậy, nên Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm vấn đề đất đai, tăng cường quản lý nhà nước về đất đai thông qua việc ban hành, sửa đổi, bổ sung các quy định, các chủ trương, đường lối, chính sách trong quản lý nhà nước về đất đai cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thực tiễn cho thấy, từ khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, nhà nước thực hiện cơ chế quản lý mới bằng việc trả lại đất đai những giá trị vốn có thì tình trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai phát sinh có xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức tạp về mặt hành vi.
Tính phức tạp của hành vi vi phạm trong lĩnh vực đất đai không chỉ bắt nguồn từ những lợi ích kinh tế, từ hệ quả của sự quản lý thiếu hiệu quả của cơ quan công quyền, sự bất hợp lý và thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật đất đai. mà còn do những nguyên nhân có tính lịch sử trong quản lý và sử dụng đất đai qua các thời kỳ. Bắc Từ Liêm là một quận thuộc Hà Nội, nằm dọc phía bờ nam của sông Hồng, Bắc giáp huyện Đông Anh, Nam giáp quận Nam Từ Liêm, Đông giáp quận Tây Hồ, Đông Nam giáp quận Cầu Giấy, Tây giáp huyện Đan Phượng, huyện Hoài Đức. Quận được thành lập theo Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày 27/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở tách 9 xã: Minh Khai, Thượng Cát, Liên Mạc, Tây Tựu, Thụy Phương, Phú Diễn, Đông Ngạc, Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế; một phần xã Xuân Phương với 9,30 ha diện tích tự nhiên và 596 nhân khẩu; một phần thị trấn Cầu Diễn với 75,48 ha Luan van 2 diện tích tự nhiên và 10.126 nhân khẩu thuộc huyện, thành 13 phường mới (Minh Khai, Thượng Cát, Liên Mạc, Thụy Phương, Tây Tựu, Phúc Diễn, Phú Diễn, Cổ Nhuế 1, Cổ Nhuế 2, Đông Ngạc, Đức Thắng, Xuân Đỉnh, Xuân Tảo).
Trong quá trình đô thị hóa những năm vừa qua, nhu cầu phát triển kinh tế của từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã thúc đẩy việc xây dựng và sử dụng đất vào mục đích để ở và kinh doanh, sản xuất ngày càng phát triển. Tuy nhiên với sự am hiểu pháp luật về đất đai còn hạn chế, từ đó đã phát sinh nhiều vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Vì vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu về vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai thực sự có ý nghĩa cấp bách cả về lý luận cũng như thực tiễn, không những giúp Nhà nước trong nỗ lực xác lập cơ chế xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai một cách có hiệu quả mà còn góp phần vào việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay và lập lại kỉ cương hành chính và sử dụng đất bền vững với các phường mới được thành lập, qua đó góp phần lập lại kỷ cương, phòng, chống vi phạm, tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai là rất cần thiết. Xuất phát từ lý do thực tiễn đó, học viên đã chọn đề tài luận văn thạc sỹ: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2017" 2.
Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội giai đoạn 2010 - 2017. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú hệ thống lý luận của khoa học quản lý đất đai về công tác xử lý vi phạm hành chính nói chung và về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai nói riêng. - Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu góp phần đưa ra một số giải pháp nhằm hạn chế vi phạm hành chính trong công tác quản lý về đất đai trên địa bàn quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
Luan van 4 CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở pháp lý về vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai 1. Khái niệm và đặc điểm của vi phạm hành chính.
Nghiên cứu Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được ban hành năm 1989, 1995, 2002 và Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2011 (có hiệu lực từ ngày 07/07/2012) cho thấy khái niệm vi phạm hành chính đều đã được đề cập trong văn bản này. Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1989 quy định: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân hay tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định pháp luật là phải bị xử lý vi phạm hành chính” [1]. Định nghĩa này sau đó đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đưa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật. Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và sau đó là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì khái niệm vi phạm hành chính không được định nghĩa một cách trực tiếp mà được hiểu một cách gián tiếp qua khái niệm xử lý vi phạm hành chính: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân,cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”[2].
Cho đến nay, cách hiểu về vi phạm hành chính được các nhà khoa học và thực tiễn hiểu một cách khá thống nhất đó là: “Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và phải bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật”. Luan van 5 - Đặc điểm cấu thành vi phạm hành chính. Khái niệm vi phạm hành chính là cơ sở đầu tiên cho việc xác định một vi phạm pháp luật là vi phạm hành chính, đồng thời để phân biệt vi phạm hành chính với các vi phạm khác. Để xác định một hành vi xảy ra có phải là vi phạm hành chính hay không, cũng như đánh giá được đúng tính chất vi phạm và mức độ xâm hại của hành vi thì việc xem xét các đặc điểm cấu thành vi phạm hành chính là vô cùng quan trọng.
Những đặc điểm và yếu tố cấu thành này được mô tả trong các văn bản pháp luật có quy định về vi phạm hành chính, hình thức và biện pháp xử lý đối với loại vi phạm này. Cũng tương tự như bất kỳ loại vi phạm pháp luật nào, các dấu hiệu cấu thành vi phạm hành chính thể hiện ở bốn yếu tố: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể. - Mặt khách quan của vi phạm hành chính. Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên ngoài của thế giới khách quan của vi phạm hành chính bao gồm: hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, hậu quả thiệt hại của hành vi gây ra cho xã hội, quan hệ nhân quả, thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện vi phạm.
- Khách thể của vi phạm hành chính Khách thể vi phạm hành chính là các quan hệ xã hội được các quy định về xử lý vi phạm hành chính bảo vệ. Tuy nhiên, dưới góc độ của vi phạm hành chính, trật tự quản lý nhà nước cũng chính là các quan hệ xã hội được luật hành chính bảo vệ. Có quan điểm cho rằng, khách thể của vi phạm hành chính là trật tự quản lý nhà nước. Nhưng quan điểm như vậy chưa chính xác, ngoài trật tự quản lý nhà nước thì khách thể của vi phạm hành chính còn có thể là các quan hệ xã hội khác.
Các quan hệ xã hội bị vi phạm hành chính xâm hại rất đa dạng, đó là: trật tự nhà nước và xã hội, sở hữu nhà nước, tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trật tự quản lý. Cho nên khách thể Luan van 6 của vi phạm hành chính phải được hiểu là các quan hệ xã hội được quy phạm pháp luật hành chính bảo vệ. - Chủ thể của vi phạm hành chính Chủ thể của vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Cá nhân, tổ chức chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm hành chính khi có năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính.
- Cá nhân: Năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính thể hiện khả năng nhận thức của con người đối với hành vi vi phạm. Vì vậy, hai yếu tố để xác định năng lực pháp lý đối với cá nhân là: Đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật và không mắc bệnh làm mất khả năng nhận thức hành vi. Cá nhân thực hiện hành vi vi phạm hành chính chỉ được coi là chủ thể vi phạm hành chính khi có năng lực pháp lý hành chính. Ở đây cũng cần phân biệt giữa chủ thể vi phạm hành chính với đối tượng vi phạm hành chính.
Cá nhân chỉ cần có năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính được xác định là chủ thể vi phạm hành chính. Còn đối tượng vi phạm hành chính ngoài năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính còn phải thực hiện một hành vi vi phạm hành chính cụ thể và bị xử phạt hành chính. Cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật hiện hành là mọi công dân.