CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng là kết quả của việc ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng và ngân hàng nhận được các giấy nhận nợ do con nợ phát hành với sự cam kết là sẽ thanh toán cả gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng.
Theo cuốn Risk Management in Banking của Joel Bessis thì rủi ro tín dụng được hiểu là: “Những tổn thất do khách hàng không trả được nợ hoặc sự giảm sút chất lượng tín dụng của những khoản vay”. Phân loại rủi ro tín dụng. - Rủi ro đọng vốn: Đó là rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bao gồm vốn gốc và lãi vay. Sự sai hẹn này do trễ hạn.
- Rủi ro mất vốn: Đó là rủi ro tín dụng khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng bao gồm vốn gốc và lãi vay. Sự sai hẹn này là do không thanh toán. - Rủi ro tín dụng: là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi. - Rủi ro lãi suất: là những tổn thất tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu khi lãi suất thị trường có sự biến đổi.
- Rủi ro hối đoái: là loại rủi ro do sự biến động của tỷ giá hối đoái gây tổn thất trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ. - Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức. Khi gặp phải trường hợp này các ngân hàng phải bán các tài sản có tính lỏng thấp với giá rẻ hay vay từ NHTW. - Rủi ro khác: Các loại rủi ro khác là rủi ro công nghệ, rủi ro quốc gia gắn liền với các hoạt động đầu tư cũng như khả năng xảy ra cướp ngân hàng, nhầm lẫn trong thanh toán, hoả hoạn.
Những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng.1 Nguyên nhân chủ quan (Nguyên nhân từ phía ngân hàng). - Do đội ngũ cán bộ thiếu đạo đức nghề nghiệp, trình độ nghiệp vụ còn hạn chế. Ngân hàng chưa khai thác đầy đủ lượng thông tin để phục vụ cho công tác thẩm 4 Phạm Lệ Thu Lớp 509TCN Tài chính-Ngân hàng định để ra quyết định cho vay đối với một khách hàng cũng như giám sát quá trình sử dụng vốn của khách hàng, cán bộ tín dụng còn nới lỏng các bước trong quy trình tín dụng tất cả nhưng nguyên nhân đóđều dẫn đến rủi ro không trảđược nợ, làm tăng nợ quá hạn cho ngân hàng. Nói tóm lại cán bộ tín dụng phải có khả năng quản lý trong mọi khâu của hoạt động tín dụng, từ việc hình thành chính sách cho vay, quá trình xét cho vay, kiểm tra và theo dõi khoản vay bao gồm cả việc sử dụng các hệ thống xếp hạng rủi ro để có thể hạn chế tốt nhất những rủi ro có thể xảy ra.
Ví dụ: Tại TP. Hồ Chí Minh, tại một thời điểm qua khảo sát cho thấy có rất nhiều ngân hàng cho vay một khách hàng vượt quá 10% vốn tự có. Ví dụ như Eximbank (74%), Sài Gòn Thương Tín ( 48%), Sài Gòn Công Thương (33%), một số ngân hàng còn vi phạm quy định khống chế cho 10 khách hàng lớn nhất không vượt quá 10% vốn tự có như Ngân Hàng Phát Triển Nhà (41%), do vậy đã cho vay tập trung vốn quá lớn cho một khách hàng như Epco, Minh Phụng khi các doanh nghiệp này thua lỗ thì các doanh nghiệp chịu rủi ro lớn. - Ngân hàng có thể gặp rủi ro trong việc thiết lập mục tiêu thị trường thiết lập các tiêu chí chấp nhận rủi ro, phân quyền, phân nhiệm trong quá trình quản lý và xét duyệt tín dụng của ban lãnh đạo.
Ngay từ quá trình hoạch định rủi ro tín dụng đãđược xem xét và chấp nhận ở một mức độ nhất định, tùy theo phương án hoạt động từng thời kỳ của các ngân hàng, dựa trên những giữ liệu quá khứ, môi trường hoạt động hiện tại và mục tiêu thị trường. Ban lãnh đạo có thể chấp nhận rủi ro ở một mức độ cho phép mà tại đó ngân hàng có thể đạt được mục tiêu, muốn vậy bộ máy quản lý và xét duyệt tín dụng cũng được xắp xếp, phân công lại các tiêu chuẩn đánh giá phân loại tín dụng cũng được bổ xung hoàn thiện. - Rủi ro tín dụng ở khâu tiếp nhận đơn đề nghị xin vay vốn của khách hàng. Công việc đầu tiên của cán bộ tín dụng là đánh giá sơ bộ, tìm kiếm những triển vọng xem xét các điều kiện có thể chấp nhận được.
Do cán bộ tín dụng cố gắng tìm ra những điều kiện có thể chấp nhận được lên đã khuyếch đại lên dẫn đến rủi ro tín dụng - Rủi ro tín dụng do khâu thẩm định và đánh giá khoản vay không chính xác. Đây là khâu chủ chốt ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng. Ngân hàng sẵn sàng cấp tín dụng hay không cấp tín dụng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: năng lực tài chính, tính khả thi của dự án vay vốn, thực trạng và triển vọng sản xuất kinh doanh, tài sản thế chấp. Thực tế đây là khâu rất quan trọng quyết đình đến chất lượng 5 Phạm Lệ Thu Lớp 509TCN Tài chính-Ngân hàng tín dụng.
Nó không những đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có năng lực thực sự thì mới hạn chế được rủi ro tín dụng mà còn đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có đạo đức, trách nhiệm trong kinh doanh đây là khâu có mối quan hệ nhạy cảm giữa khách hàng với cán bộ tín dụng. - Rủi ro tín dụng phát sinh do cán bộ tín dụng phân tích báo cáo tài chính chưa tố, việc kiểm tra cơ sở của khách hàng và phỏng vấn trực tiếp khách hàng không đạt được kết quả mong muốn. Do mức độ trung thực của thông tin dẫn đến các trường hợp xảy ra: + Không tính toán chính xác dòng tiền mặt nhằm đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn. + Không xác định được thực sự quyền sở hữu tài sản của khách hàng nhằm đánh giá năng lực vay nợ.
+ Các hạng mục tồn kho, phải thu, phải trả không được phản ánh chính xác từ đó tính toán sai về khả năng thanh toán, vốn tự có, vốn chiếm dụng nhằm thực hiện khả năng tài trợ tự tài trợ cũng như năng lực vay nợ của khách hàng. + Xác định doanh thu và chi phí không phù hợp dẫn đến hiệu quả kinh doanh không được phản ánh chính xác. + Thiếu khả năng phân tích kỹ thuật nhằm xác định được mức khả thi của dự án vay vốn. + Thiếu khả năng đánh giá tài sản và uy tín đưa ra bảo đảm cho khoản vay.
Nguyên nhân khách quan ( Nguyên nhân từ phía khách hàng). - Đối với khách hàng là cá nhân: Mặc dù quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng là cá nhân đơn giản hơn so với khách hàng là doanh nghiệp song thực tế cho thấy khách hàng là cá nhân có số lượng lớn hơn, phân tán giá trị khoản vay nhỏ nên việc tìm hiểu nguyên nhân từ phía khách hàng là cá nhân cóý nghĩa rất quan trọng. Với khách hàng là cá nhân thì nguyên nhân dẫn đến rủi ro có thể là: + Hoạt động kinh doanh không thuận lợi, khả năng quản lý yếu kém. + Nguồn hoàn trả chính từ thu nhập cơ bản mất hoặc bị suy giảm do mất việc, chuyển sang công việc kém hơn hoặc không còn khả năng lao động.
+ Cá nhân gặp những chuyện bất thường trong cuộc sống. + Đạo đức cá nhân không tốt: cố tình lừa ngân hàng, sử dụng tiền vay bừa bãi. - Đối với khách hàng là doanh nghiệp: 6 Phạm Lệ Thu Lớp 509TCN Tài chính-Ngân hàng + Doanh nghiệp gặp rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Thứ nhất là thiệt hại về thị trường cung cấp: Do giá nguyên vật liệu và các yếu tốđầu vào tăng bất thường dẫn đến chi phí sản xuất kinh doanh tăng làm giá bán tăng do đó doanh nghiệp không tiêu thụ hết mặt hàng sản xuất, gây ra ứđọng sản phẩm.
Vì vậy lợi nhuận giảm, ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do không đảm bảo về chất lượng, quy cách phẩm chất của các nguyên vật liệu cung ứng, gây khó khăn cho khâu tiêu thụ. Do không đủ số lượng nguyên vật liệu cung cấp cho các doanh nghiệp do đó không đảm bảo hết công suất sản xuất của doanh nghiệp làm cho giá sản phẩm tăng và số lượng người mua giảm. Thứ hai là thiệt hại về thị trường tiêu thụ: Giá bán thị trường giảm làm thu nhập giảm.
Khách hàng đã huỷ hợp đồng làm doanh nghiệp bị thua lỗ. Hệ thống phân phối không làm tốt chức năng. Nền kinh tế trì trệ, thu nhập bình quân của người dân giảm. Số lượng sản phẩm doanh nghiệp cung ứng trên thị trường lớn hơn nhu cầu của thị trường.
Chất lượng sản phẩm doanh nghiệp không đáp ứng được nhu cầu thị trường. Thứ ba là do suy giảm chất lượng quản lý: Sự yếu kém của đội ngũ nhân viên của một doanh nghiệp làm cho kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp thực hiện không thành công, kém hiệu quả + Doanh nghiệp có rủi ro tài chính gia tăng. Thứ nhất là rủi ro trong kinh doanh. Thứ hai là cơ cấu vốn bất hợp lý.
Do tỷ lệ nợ trên tổng nguồn vốn cao làm cho nghĩa vụ trả nợ quá lớn, do vậy doanh nghiệp khó trả nợ… Do việc sử dụng nợ quá hạn đều đầu tư cho mục đích dài hạn. Thứ ba là do doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn với thời gian kéo dài. + Do sự biến động chính trị - xã hội làm cho nhu cầu tiêu dùng giảm sản xuất kinh doanh bị trì trệ, khách hàng không thu hồi được vốn đầu tư dẫn đến rủi ro cho cả khách hàng và ngân hàng. 7 Phạm Lệ Thu Lớp 509TCN Tài chính-Ngân hàng + Do môi trường kinh tế không ổn định: Sự biến động của thị trường đã làm ảnh hưởng đến lãi suất ngân hàng, tỷ lệ lạm phát cao, chính sách tiền tệ thắt chặt … không khuyến khích đầu tư dẫn đến sản xuất bị trì trệ, nhiều doanh nghiệp bị thua lỗ.
+ Do điều kiện tự nhiên: Hạn hán, lũ lụt, động đất … đã gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra rủi ro không lường trước được đối với NH.