CHƯƠNG 1 CO SO LY LUAN VE HOẠT ĐỘNG KIẾM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. RUI RO TIN DUNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIEP CUA NGAN HANG THUONG MAI 1.1 Khai niém va dic diém cia doanh nghiệp Trên phương diện lý thuyết, có khá nhiều cách hiểu về DN vì khái niệm DN được nghiên cứu và xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Theo quan điểm chức năng, nhà kinh tế học người Pháp Francois Perroux định nghĩa doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản pham hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy. Theo quan điểm phát triển, D.A Caillat (1992) cho rằng: “Doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải.
Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được.” Theo quan điểm pháp lý, Điều 4 Luật Doanh nghiệp số 60/2005/QH11 do Quốc hội ban hành ngày 29/11/2005: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.” 15 Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự, hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế và chịu sự quản lý của Nhà nước bởi Luật doanh nghiệp và các quy định của pháp luật. Trong giao dịch với ngân hàng, DN có đặc điểm sau: Thứ nhất: Trong ngân hàng, khách hàng DN là đối tượng khách hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ về mặt số lượng nhưng chiếm tỷ trọng lớn về mặt doanh số giao dịch. Do vậy, giao dịch với khách hàng DN, ngân hàng có thể tiết kiệm được chỉ phí giao dịch dựa vào lợi thế về quy mô giao dịch. Cụ thể khi vay vốn, khách hàng DN thường vay những khoản vay có giá trị lớn, quy mô của từng hợp đồng vay lớn do đó ngân hàng tiết kiệm được chỉ phí tổ chức cho vay.
Thứ hai: Thông tin tài chính của khách hàng DN rõ ràng và được thể hiện qua báo cáo tài chính. Theo quy định của Pháp luật hiện hành về tổ chức và thành lập DN ở Việt Nam hiện có nhiều văn bản khác nhau trong đó có thể kể đến: Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã, Luật Các tổ chức tín dụng. Ngoài các văn bản nêu trên thì DN được thành lập và hoạt động còn phải tuân theo các quy định của các văn bản hướng dẫn, và các văn bản pháp luật chuyên ngành đối với từng ngành nghề kinh doanh cụ thể của DN. Theo đó: Doanh nghiệp được tổ chức theo nhiều loại hình khác nhau.
Mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc trưng riêng của nó và từ đó tạo nên những hạn chế hay lợi thế của DN. Chúng ta có thể phân ra các loại hình doanh nghiệp như sau: Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh; Công ty TNHH có hai thành viên trở lên; Công ty TNHH một thành viên; Công ty cổ phần; Công 16 ty nhà nước; Hợp tác xã; Doanh nghiệp liên doanh; Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.2 Khái niệm và đặc điểm cho vay doanh nghiệp a. Khai niệm cho vay doanh nghiệp Cho vay là một trong những hình thức cấp tín dụng của NHTM. Theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Theo Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 do Quốc hội ban hành ngảy 16/6/2010: “Cấp tín dụng là việc thoả thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Vậy cho vay doanh nghiệp là việc thoả thuận để doanh nghiệp sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tải chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Đặc điểm cho vay doanh nghiệp Trong HĐKD tiền tệ của NHTM, hoạt động cho vay là hoạt động đóng góp lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng. Cho vay doanh nghiệp của NHTM có những đặc điểm sau: - Đối tượng khách hàng đa dạng vì các DN hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Do đó nhu cầu vay vốn cũng đa dạng và phong phú, từ việc cho vay trong lĩnh vực xây dựng đối với các DN xây lắp hay cho vay lĩnh vực đầu tư chăm sóc cây công nghiệp đối với các DN sản xuất cà phê, cao su. 17 - Mục đích sử dụng vốn của DN là để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất như vay vốn để mua nguyên liệu phục vụ sản xuất, mua sắm tải sản cố định, xây dựng nhà xưởng, đổi mới thiết bị và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh với các khoản vay có giá trị lớn và có thể rất lớn. - Thủ tục và quy trình cho vay DN phức tạp hơn vì tính pháp ly cua DN phức tạp hơn nhiều so với cá nhân. Bên cạnh đó giá trị khoản vay lớn và tài sản đảm bảo thường phức tạp, khó định giá hơn vì hầu hết tài sản DN thường thế chấp chính nhà máy, dụng cụ sản xuất của mình.
- Nguồn trả nợ của người vay từ tiền bán hàng, lợi nhuận, khấu hao và các nguồn thu hợp pháp khác. - So với cho vay khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh, khách hàng DN có hệ thống thông tin tốt hơn, chặt chẽ hơn do đều có hệ thống thông tin kế toán, báo cáo tài chính. Các thông tin tài chính được khách hàng cung cấp từ các báo cáo tài chính, báo cáo thuế. Tùy thuộc vào báo cáo tài chính có được kiểm toán hay không, uy tín của tổ chức kiểm toán mà chất lượng thông tin tai chính khách hàng cung cấp cao hay thấp.
- Rủi ro xảy ra từ cho vay DN thường gây ra tôn thất lớn cho NHTM. Do đó, các lãnh đạo NHTM rất quan tâm đến quản trị rủi ro các khoản cho vay DN.3 Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của ngần hàng thương mại Theo Timothy W.Koch (1995), “Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ân của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn.” 18 Con theo Henie Van Greuning, Sonja Brajovic Bratanovic (1999): “Rui ro tin dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thê chỉ trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng, đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chỉ trả bị trì hoãn, hoặc tôi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ.
Điều này gây ra sự cô đối với dòng chu chuyên tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng.” RRTD là thiệt hại về kinh tế của ngân hàng do một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng không hoàn trả được nợ vay của ngân hàng. RRTD là khoản lỗ tiềm tảng vốn khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng hay nói cách khác RRTTD là khả năng xảy ra do khách hàng không thực hiện trả nợ theo các điều khoản đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. RRTD là rủi ro tốn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mắt khả năng thanh toán. RRTD xảy ra khi xuất hiện các biến cỗ không thể lường trước khiến khách hàng không thực hiện được các cam kết đã thoả thuận với ngân hàng.
Mặt khác, RRTTD và lợi nhuận tín dụng kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng đồng biến với nhau trong phạm vi nhất định (lợi nhuận kỳ vọng cao thì rủi ro tiềm ấn càng lớn). RRTD trong cho vay doanh nghiệp là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do DN không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết trong hợp đồng tín dụng.4 Phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của ngân hàng thương mại Đề chủ động hạn chế RRTD trong cho vay DN có hiệu quả, nhận biết các đặc điểm của RRTD trong cho vay DN là rất cần thiết và hữu ích. Những hình 19 thức thức biểu hiện, nguyên nhân phát sinh và tính khách quan, chủ quan xảy ra RRTD được phân chia thành các loại sau: Căn cứ vào hình thức biếu hiện, RRTD phân thành: - Rủi ro sai hẹn là loại rủi ro khi khách hàng không trả nợ đúng hạn như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Đây là rủi ro ngoài ý muốn chủ quan của khách hàng, họ có thiện chí trả nợ nhưng tạm thời gặp khó khăn về tài chính dẫn đến chậm trả nợ cho ngân hàng, rủi ro này được tập trung ở những món vay được ngân hàng gia hạn và đây là dấu hiệu ban đầu của RRTD.
- Rủi ro không thu hồi được nợ là những khoản vay mà ngân hàng có khả năng thu hồi được vốn vay rất thấp, có nguy cơ bị mất vốn. Khách hàng cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng hoặc do DN bị phá sản, ngân hàng đã tìm mọi cách dé thu hồi nhưng thu hồi không được hoặc không đủ. Loại rủi ro này thường tập trung ở các món vay đã chuyển sang nợ có vấn đề, đây là rủi ro mà ngân hàng cần phải quan tâm nhiều nhất.