Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng Chương 2: Quy trình và phƣơng pháp nghiên cứu 3 Chương 3: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng tại Agibank chi nhánh Tây Hồ Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank chi nhánh Tây Hồ 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nƣớc và quốc tế 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Lĩnh vực ngân hàng luôn có sự vận động thay đổi không ngừng, các sản phẩm dịch vụ mới ngày càng mở rộng, đa dạng phong phú do đó yêu cầu các công trình nghiên cứu luôn thay đổi cho phù hợp với xu thế phát triển của lĩnh vực ngân hàng ngày nay. Nhìn chung các nghiên cứu mặc dù đã tiếp cận quản trị rủi ro tín dụng theo hƣớng chuẩn quốc tế quy định hiện nay đang đƣợc áp dụng, các nghiên cứu này phần lớn dừng lại ở mức độ nêu lên nội dung của Basel 2 (Là hiệp ƣớc do Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng các nƣớc G10, ban hành hệ thống đo lƣờng về vốn và rủi ro tín dụng), với đối tƣợng là các NHTM có những nghiên cữu đã đề cập tuy niên chƣa đề cập một cách có lý luận và hệ thống đến thực tế các NHTM này đang đạt đƣợc ở mức độ nào, bên cạnh đó cũng chƣa đƣa ra đƣợc các NHTM còn thiếu sót điều gì so với quy định chuẩn quốc tế hay theo quy định của NHNN đồng thời cũng không đề cập đến sự khác biệt giữa quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng nghiên cứu có điểm đặc trƣng nào khi so với những NHTM còn lại trong hệ thống ngân hàng.
Các nghiên cứu quản trị rủi ro thƣờng có tính chất định tính, các mô hình quản trị rủi ro không có nhiều thay đổi cả về đo lƣờng rủi ro, các tổn thất mà ngân hàng gặp phải khi rủi ro tín dụng xảy ra, việc phản ánh mức độ chấp nhận rủi ro của các ngân hàng chƣa rõ ràng, cũng chƣa đƣa ra đƣợc cách thức để xây dựng hệ thống theo dõi cơ cấu và chất lƣợng tổng thể các danh mục đầu tƣ, cấp tín dụng. Một số công trình nghiên cứu đã sử dụng phƣơng pháp định lƣợng tuy nhiên rõ ràng là đối với các ngân hàng thƣơng mại khác nhau thì đều có 5 những đặc thù riêng, có chính sách tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng riêng, do đó những yếu tố ảnh hƣởng đến rủi ro tín dụng ở mỗi ngân hàng sẽ khác nhau. Vì vậy, không thể có một kết quả chung về các tác động của những nhân tố đến rủi ro tín dụng cũng nhƣ quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM. Rủi ro tín dụng luôn tồn tại trong mỗi NHTM, do vậy RRTD luôn đƣợc quan tâm sát sao của các cấp lãnh đạo và của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, ở trong nƣớc cũng nhƣ nƣớc ngoài.
Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu, thảo luận khoa học xung quanh công tác quản trị rủi ro tín dụng, cụ thể: Theo Lê Thị Huyền Diệu (2010) cho rằng, hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại, bằng cách nêu lên các dấu hiệu, các chỉ tiêu, các nguyên nhân, phản ánh rủi ro tín dụng (RRTD). Trên cơ sở đó, tác giả hệ thống hóa chi tiết các nội dung căn bản trong quản trị RRTD và đƣa ra các mô hình quản lý rủi ro (QLRR) với điều kiện áp dụng cụ thể. Trên thực tế, mỗi ngân hàng có đặc điểm riêng về cơ cấu tổ chức, quy mô vốn, lĩnh vực ƣu tiên hoạt động, hình thức sở hữu, trình độ công nghệ và nhân lực… do đó, các giải pháp có thể chƣa phù hợp với một ngân hàng cụ thể. Nguyễn Thị Thu Đông (2012), đƣa ra các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng tín dụng và kinh nghiệm nâng cao chất lƣợng tín dụng của các ngân hàng trên thế giới.
Trong phần đánh giá thực tiễn tác giả đã đánh giá thực trạng chất lƣợng tín dụng của NHTM cổ phần Ngoại thƣơng Việt Nam trong đó một trong những chỉ tiêu rất quan trọng đó là tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng. Tác giả đƣa ra các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lƣợng tín dụng, các biện pháp quan trọng đƣợc đề cập đó là quản lý nợ xấu và kiểm soát RRTD. Nguyễn Đức Tú (2012) cho rằng sự cần thiết phải quản lý RRTD, nội dung quản lý RRTD bao gồm: nhận biết, đo lƣờng, ứng phó và kiểm soát RRTD. Tác giả thông qua kinh nghiệm quản lý RRTD của các ngân hàng nhƣ: Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc, Ngân hàng Citibank của Mỹ, Ngân 6 hàng Nova Scotia - Canada, Ngân hàng KasiKom của Thái Lan và Ngân hàng ING bank của Hà Lan.
Qua tìm hiểu công tác quản lí rủi ro của các ngân hàng trên, tác giả đúc rút các bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý RRTD cho NHTM cổ phần Việt Nam. Trong phần tìm hiểu thực tiễn, tác giả đi vào tìm hiểu và đánh giá RRTD tại NHTM cổ phần Công thƣơng Việt Nam và công tác quản trị RRTD tại NHTM. Tác giả đã đánh giá những kết quả đạt đƣợc nhƣ chất lƣợng nợ, cơ cấu nợ, hệ thống khuân khổ, cơ chế, hệ thống xếp hạng tín dụng. Bên cạnh đó, tác giả đánh giá những hạn chế trong công tác quản lý RRTD của ngân hàng nhƣ chiến lƣợc RRTD chƣa phù hợp, quy trình cấp tín dụng, hệ thống đo lƣờng tín dụng… và những nguyên nhân của những hạn chế trên.
Trong luận án, tác giả cũng trình bày định hƣớng công tác quản lý RRTD và các giải pháp tăng cƣờng quản lý RRTD tại Ngân hàng, đồng thời đề xuất các kiến nghị với Nhà nƣớc, NHNN và Ủy ban giám sát tài chính quốc gia. Theo Phan Thị Thanh Lâm (2012) cho rằng, việc các NHTM phải đối mặt với rủi ro tín dụng là không thể tránh khỏi. Để hạn chế giảm thiểu những rủi ro đó, các NHTM có thể sử dụng một trong những kỹ thuật quản trị rủi ro tín dụng là sử dụng phân tích chấm điểm để xếp hạng tín dụng dựa trên các yêu cầu từ ngân hàng nhà nƣớc (NHNN). Việc chấm điểm, xếp hạng tín dụng khách hàng yêu cầu tính nhất quán, chính xác về thông tin thu thập từ khách hàng, đặc biệt là khách hàng doanh nghiệp.
Các sai số trong quá trình thu thập thông tin khách hàng có thể dẫn đến thiếu chính xác trong việc chấm điểm, xếp hạng tín dụng dẫn đến trƣờng hợp doanh nghiệp sắp phá sản nhƣng vẫn có điểm xếp hàng tín dụng tốt, tác giả đã đi sâu nghiên cứu và đề xuất chấm điểm bằng mô hình Z-Score tại tổ chức của mình nhƣ một biện pháp bổ sung sàng lọc khách hàng nhằm phát hiện loại bỏ những rủi ro tín dụng tiềm ẩn cho NHTM. 7 Nguyễn Phúc Cảnh (2014), cho rằng rủi ro tín dụng là rủi ro cơ bản trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân dẫn đến yếu kém của hệ thống NHTM Việt Nam dẫn đến phải tiến hành tái cấu trúc trong thời gian qua. Quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM vẫn đang diễn qua, câu hỏi đặt ra: Nên dùng phƣơng pháp quản lý nào để đánh giá, dự báo rủi ro tín dụng của khách hàng sớm nhằm giúp NHTM kịp thời đƣa ra biện pháp can thiệp cũng nhƣ giải quyết thích hợp.
Ứng dụng mô hình Z – score vào đánh giá rủi ro tín dụng của khách hàng có thể là câu trả lời thích hợp. Những rủi ro có thể làm doanh nghiệp rơi vào tình trạng khó khăn và căng thẳng tài chính nhƣ: rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro pháp lý, rủi ro lạm phát, rủi ro tỷ giá, rủi ro tín dụng, rủi ro về quản trị của doanh nghiệp, rủi ro con ngƣời, rủi ro đầu tƣ…Kết quả xấu nhất là dẫn đến phá sản. Khi doanh nghiệp phá sản không những ảnh hƣởng trực tiếp đến chủ sở hữu của doanh nghiệp mà còn ảnh hƣởng đến nhiều đối tƣợng khác nhƣ: ngƣời lao động, cơ quan thuế, cơ quan nhà nƣớc, các công ty đối tác, thị trƣờng,… NHTM là tổ chức sẽ bị tổn thƣơng nặng nề do doanh nghiệp bị phá sản. Vấn đề đặt ra: Làm thế nào để phát hiện sớm các dấu hiệu phá sản của doanh nghiệp bằng các dấu hiệu báo trƣớc nguy cơ rủi ro tín dụng để từ đó NHTM có các hành động và biện pháp kịp thời đối phó với các rủi ro đó.
Tình hình nghiên cứu tại nước ngoài Đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết và các mô hình thực nghiệm liên quan đến phòng ngừa và hạn chế RRTD. Nổi bật nhất là những nghiên cứu sau: Joel Basis (2012) đã khái quát và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị RRTD từ các khái niệm cơ bản về RRTD, quản trị RRTD. Ngoài các khái niệm cơ bản, tác giả còn nghiên cứu sâu về Một phần thảo luận về các mô hình RRTD, quản lý tài sản và trách nhiệm, định giá tín dụng, vốn dựa 8 trên rủi ro, VAR, quản lý danh mục cho vay, định giá quỹ và phân bổ vốn. Chrinko (2000), Crolina (2001), Joke Basis (2012), nghiên cứu nổi bật là đã làm rõ nét các mô hình đo lƣờng RRTD của các NHTM.
Ruth Taplin (2005) đã có những nghiên cứu về quản trị rủi ro tại ngân hàng Phát triển Nhật Bản DBJ. Trong đó đề cao sự thay đổi mục tiêu chiến lƣợc, những chính sách tài chính trọng yếu hƣớng đến mục tiêu của ngân hàng Phát triển Nhật Bản. Những thay đổi chiến lƣợc này bao gồm các thay đổi trong hoạt động quản trị rủi ro và hoạt động tác nghiệp chung tại ngân hàng này. (2017) cho rằng việc áp dụng theo tiêu chuẩn Basel II về đảm bảo an toàn vốn và quản rị rủi ro tín dụng sẽ hiệu quả hơn so với việc sử dụng các mô hình quản trị của nội bộ ngân hàng.
Tuy nhiên, để thực hiện theo chuẩn Basel II thì các ngân hàng cần huy động nguồn lực, sử dụng một cách hiệu quả trong việc đảm bảo an toàn vốn, quản trị rủi ro tín dụng do tốn kém chi phí.