MỞ ĐẦU Quảng Ninh là một trong số các địa phƣơng hội tụ nhiều yếu tố tự nhiên thuận lợi cho sự phát triển kinh tế thuỷ sản. Có thể coi điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh nhƣ một Việt Nam thu nhỏ. Với cấu trúc địa hình đa dạng, biển Quảng Ninh có lợi thế rất lớn để phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế quan trọng khác. Ngành thuỷ sản những năm qua đã có những bƣớc phát triển đáng kể và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của tỉnh.
Sự phát triển của nghề cá dựa trên 3 lĩnh vực chính đó là khai thác hải sản, nuôi trồng thuỷ sản và chế biến thủy sản. Chế biến thủy sản đã tạo ra việc làm và thu nhập cho nhiều lao động, góp phần vào công cuộc xoá đói giảm nghèo và bảo vệ an ninh chủ quyền trên vùng biển của Tổ quốc, đặc biệt là những vùng hải đảo nơi ngƣời dân có rất ít cơ hội tiếp cận các nguồn sinh kế. Những năm gần đây khai thác và chế biến sứa đã phát triển và thu đƣợc nhiều lợi nhuận. Sản phẩm sứa chế biến là nguồn thực phẩm đóng góp quan trọng đảm bảo an ninh thực phẩm của tỉnh phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ nội địa, du lịch và xuất khẩu.
Sự phát triển của nghề chế biến sứa cũng góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung của tỉnh, thu hút đƣợc nhiều nguồn đầu tƣ trong nƣớc và ngoài nƣớc ( Trung quốc). Tuy nhiên bên cạnh những ý nghĩa kinh tế xã hội của nghề chế biến sứa, còn tồn tại những vấn đề môi trƣờng phát sinh đã và đang gây ảnh hƣởng xấu tới môi trƣờng và cảnh quan. Hàng năm môi trƣờng biển phải tiếp nhận một lƣợng rất lớn chất thải từ hoạt động phát triển kinh tế xã hội trong đất liền xả thải các chất ô nhiễm ra biển bao gồm cả các ngành khai thác khoáng sản, du lịch, dịch vụ, vận tải biển, phát triển kinh tế thủy sản nói chung và nghề sơ chế sứa nói riêng đã góp phần không nhỏ trong việc tạo nên tình trạng ô nhiễm môi trƣờng biển ở Quảng Ninh. Việc khai thác và chế biến sứa thiếu khoa học tại các địa phƣơng đang là những tác nhân khiến biển Quảng Ninh mất đi vẻ đẹp và môi trƣờng trong xanh, hữu tình.
Ngƣ dân ở địa phƣơng cho biết, mùa sứa năm 2008, riêng xƣởng chế biến trên đảo mỗi ngày có hàng trăm tàu thuyền ra vào cung ứng sứa nguyên liệu. Trong quá trình 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản xuất, xƣởng chế biến sứa này đã thải ra biển toàn bộ lƣợng nƣớc thải, và các phần dƣ thừa từ con sứa xuống biển. Nghiêm trọng hơn, tại thời điểm đó chế biến, sứa chỉ đƣợc cắt lấy đầu. Còn phần thân vứt xuống biển, khiến một phần vùng nƣớc biển bị ô nhiễm chuyển sang màu, bốc mùi hôi rất khó chịu.gây ảnh hƣởng xấu chất lƣợng môi trƣờng sống của các loài thủy sinh vật nói chung và nguồn lợi thủy sản nói riêng và đặc biệt là các loài thủy sản quý hiếm, loài có giá kinh tế cao nhƣ: sá sùng, bào ngƣ, tu hài, trai ngọc, hải sâm.Vấn đề ô nhiễm môi trƣờng biển ở hai địa phƣơng Cô Tô và Vân Đồn trở lên cần đáng lƣu tâm hơn khi quần đảo Cô Tô nằm trong quy hoạch khu bảo tồn biển của chính phủ theo Quyết định số 742/QĐ- TTg ngày 26/5/2010, và khu vực biển Minh Châu – Quan Lạn đã đƣợc khoanh vùng bảo tồn bãi sá sùng thuộc Chƣơng trình bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản Quảng Ninh giai đoạn 2005- 2015 do Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Ninh thực hiện.
Xuất phát từ quan điểm, mục tiêu phát triển bền vững ngành thủy sản tôi chọn đề tài luận văn “ Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước tại khu vực sơ chế sứa ven biển, huyện Vân Đồn – Quảng Ninh” hƣớng tới việc đánh giá những tồn tại, hạn chế và hiệu quả kinh tế xã hội của nghề sơ chế sứa, hiện trạng chất lƣợng môi trƣờng nƣớc nhằm nắm đƣợc những thông tin cơ bản để làm tiền đề cho việc đƣa ra những giải pháp trong quản lý, chính sách phù hợp với địa phƣơng. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu chất lƣợng nƣớc và ô nhiễm nƣớc trên thế giới và tại Việt Nam 1.
Trên thế giới: Đánh giá mức độ ô nhiễm nƣớc đƣợc dựa trên các chỉ tiêu chủ yếu về vật lý và hóa học và sinh học. Trên cơ sở bản chất và hàm lƣợng của các chất gây chết, cũng nhƣ tính mẫn cảm với các chất gây ô nhiễm của các loài thủy sinh vật, các nhà sinh thái học và môi trƣờng còn định ra ngƣỡng hàm lƣợng tối thiểu cho phép và ngƣỡng an toàn đối với các chất thải đƣợc phép đƣa vào thủy vực - Các chỉ tiêu vật lý: Nhiệt độ, độ trong, màu sắc, mùi vị của nƣớc, các chất cặn - Các chỉ tiêu hóa học: Độ pH, độ cứng, hàm lƣợng CO2, nhu cầu ô xi sinh học, nhu cầu ô xi hóa học, ô xi hòa tan, độ axit, độ kiềm, các nhóm muối chính ( nitơ, photpho, silic.), các kim loại nặng ( Fe, Cu, Pb, Zn, Hg, Cd,Co,V.), các dạng khí độc ( CH4, H2S .) và dầu mỡ; thế oxi hóa khử - Các chỉ tiêu sinh vật: Coliform, các vi khuẩn hiếu khí và kị khí, những sinh vật chỉ thị quan trọng: đại diện các nhóm tảo nhƣ Dinoflagellata, Cyanophyta, Chlorophyta, Bacillariophyta, protozoa, ấu trùng Chironomideae, Tubifex, Rota toria, Daphnia, Moina, Copepoda. Dựa vào các chỉ tiêu trên Phân loại mức độ ô nhiễm của thủy vực: Năm 1902 ở Châu Âu, Kolkwits và Marson khi đo mức độ nhiễm bẩn các chất hữu cơ nơi sông suối đã xác định các nhóm loài chỉ thị cho các điều kiện môi trƣờng khác nhau, đƣa ra khái niệm “các chỉ thị sinh học của ô nhiễm” và đề xuất hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn dựa vào các loài đƣợc tìm thấy trong quần xã sinh vật nổi (plankton), sinh vật bám (periphyton), động vật không xƣơng sống cỡ lớn (macroinvertebrates) và cá. Năm 1908 – 1909, hai tác giả này đã chia nhỏ thành 4 mức độ: - Nghèo dinh dƣỡng - Không bẩn (Oligosaprobe) - Nhiễm bẩn vừa mức α (α – mesosaprobe) 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nhiễm bẩn vừa mức β (β – mesosaprobe) và rất bẩn (polysaprobe).
Zhadin, 1964 còn chia nƣớc thành 3 loại: nƣớc bẩn ( Saprobe) chủ yếu chứa chất hữu cơ, vi khuẩn; nƣớc độc ( toxobe) chứa các kim loại nặng, chất phóng xạ, các hóa chất độc ( ĐT, phenop.) và nƣớc vừa bẩn vừa độc là hỗn hợp của 2 loại nƣớc trên. Ông cũng chia thành 4 mức Oligo -, Meso-, Poly -, Hypersaprobe ( Toxo hay saprotoxobe) [10]. Slodecek, 1963 chia nƣớc thành các loại sau: nƣớc sạch ( Katarobe), nƣớc nhiễm bẩn( limonosaprobe), nƣớc bẩn gây ra do chất hữu cơ ( eusaprobe), nƣớc bẩn gây ra không do chất hữu cơ ( transaprobe). Nhóm cuối cùng tách thành antisaprobe ( có chất độc), radiosaprobe ( bẩn phóng xạ) và cyptoxaprobe ( bẩn vật lý, nhiệt) [10].
Ngoài ra sử dụng các chỉ thị sinh học trong đánh giá chất lƣợng nƣớc đã có những nghiên cứu sau Kolkwits và Marson nhƣ: Kolkwitzs, 1950; Liebmann, 1951, 1962; Fjerdingstad, 1988, đã bổ sung và phát triển hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn [10] Pantle và Buck, 1955, Zelinka và Marvan, 1961 đã ứng dụng hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn để xây dựng hệ số ô nhiễm [10] Sladecek, 1973, đã đƣa ra danh mục các nhóm thủy sinh vật chỉ thị ô nhiễm. Chỉ số sinh học tiếp tục đƣợc phát triển bởi Courl, 1987 và Foissner, 1988. Các hệ thống quan trắc sinh học đƣợc các nƣớc sử dụng nhƣ chuẩn quốc gia để quan trắc chất lƣợng nƣớc[10] Tổ chức nghiên cứu về quan trắc sinh học (Biological Monitoring Working) tại Anh năm 1976 đã đƣợc thành lập và đã đƣa ra hệ thống điểm số BMWP/ASPT, (Party/Average Score Per Taxon). Năm 1977 xây dựng chƣơng trình RIVPACS (River Invertebrate Prediction And Classification System) hệ thống phân loại và dự báo chất lƣợng môi trƣờng bằng động vật không xƣơng sống ở sống với mức độ phân loại tới họ và chỉ số chất lƣợng môi trƣờng EQI (Environmental Quality Index) [7] 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Wooddiwiss năm 1964 đƣa ra khái niệm khác “Chỉ số sinh học trent” có nội dung là dùng lƣới tay thu mẫu.
Mẫu vật thu bằng tay và bằng chà đạp, phải lấy vật liệu chứa tất cả động vật không xƣơng sống cỡ lớn [32]. Thang tính điểm BMWP – Anh đƣợc De Zwart và Trivedi, 1994 chuyển đổi cho phù hợp với điều kiện đất nƣớc và nó đƣợc gọi là BMWP – Ấn. Theo Munir Ziya (2005) thì nhiều kim loại nặng có mặt một cách tự nhiên trong môi trƣờng biển và là những tác nhân gây ô nhiễm môi trƣờng nƣớc biển khi chúng ở hàm lƣợng cao [32] 1. Ở Việt Nam: Từ những năm 1984, tác giả Nguyễn Văn Tuyên đã sử dụng chỉ số dinh dƣỡng Nygaard (1949) để đánh giá chất lƣợng nƣớc ở một số thủy vực nội địa Việt Nam [15].
Năm 1988, tác giả Nguyễn Văn Tuyên đã sử dụng vi tảo và động vật đáy để đánh giá chất lƣợng nƣớc sông rạch thành phố Hồ Chí Minh [11]. Năm 1989 – 1990, tác giả Phạm Văn Miên dựa trên cấu trúc quần xã, loài ƣu thế của các nhóm thủy sinh vật để phân vùng, phân loại và đánh giá chất lƣợng nƣớc trong hệ thống sông rạch thành phố Hồ Chí Minh [11] Ngoài việc phân tích cấu trúc quần xã, loài ƣu thế, loài chỉ thị tác giả Phạm Văn Miên và cộng sự còn xác lập chỉ số ô nhiễm, chỉ số tƣơng đồng để đánh giá chất lƣợng nƣớc. Phạm Văn Miên và cộng sự, 2003 trong chƣơng trình “Nghiên cứu đề xuất các chỉ tiêu sinh học để giám sát hệ sinh thái thủy sinh thuộc lƣu vực sông Mê Kông của Việt Nam” đã xác lập danh mục các loài chỉ thị sinh học cho các loại nƣớc ở vùng Điện Biên, vùng thƣợng lƣu sông Xê Băng Hiên, cao nguyên Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời xây dựng chỉ số ô nhiễm Zelinka và Marvan và hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn hữu cơ 4 bậc cho các thủy vực [12] 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.