CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG CÁC MÔ HÌNH CHẤT LƯỢNG NƯỚC ĐỂ NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ Ô NHIỄM NƯỚC TRÊN CÁC THỦY VỰC SÔNG 1. Tình hình ứng dụng các mô hình chất lượng nước để nghiên cứu, đánh giá ô nhiễm nước 1. Trên thế giới Để nghiên cứu đánh giá ô nhiễm nước cần tính toán đánh giá biến đổi chất lượng nước trong sông và các thủy vực, một trong những phương pháp hiệu quả nhất là sử dụng mô hình chất lượng nước. Hiện nay trên thế giới đã ứng dụng rộng rãi mô hình chất lượng nước để nghiên cứu đánh giá biến đổi chất lượng nước và làm cơ sở cho việc quản lý, bảo vệ chất lượng nước.
Các mô hình chất lượng nước rất đa dạng trong đó mô phỏng biến đổi chất lượng nước tại hầu hết các thủy vực như sông, hồ, trong vùng không chịu ảnh hưởng triều và khu vực cửa sông ven biển. Nhiều mô hình đã được ứng dụng rộng rãi trên thế giới như bộ mô hình MIKE, DELTA,… Những mô hình dòng chảy và chất lượng nước có tính thương mại trên thế giới phải kể đến họ mô hình MIKE, trong đó có MIKE 11. Đây là bộ phần mềm của viện DHI Đan Mạch, được ứng dụng, nghiên cứu cho dự án quy hoạch và quản lý tài nguyên nước và phòng chống thiên tai tại nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Thái Lan, Bangdales,…Trong khuôn khổ của Dự án tăng cường năng lực các Viện Ngành nước ở Việt Nam, DHI đã đào tạo và chuyển giao bản quyền cho một số cơ quan ngành nước thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. ISIS: Bộ phần mềm này của công ty Halcrow và trường Wallingford phối hợp xây dựng, được sử dụng trong chương trình sử dụng nước (WUP) của Ủy Hội sông Mê Công.
Mỗi nước thành viên có được 2 – 3 license. Tuy nhiên phần mềm này đối với Việt Nam chưa được thương mại hóa như MIKE, nhưng du nhập vào Việt Nam thông qua các dự án có thể chuyển giao công nghệ như chương trình WUP. 6 Các bộ phần mềm khác như Duflow, Sobek/Wendy, Telemax, Qual2-E, Wasp6,.là những bộ phần mềm thương mại, phải mua bản quyền nên khi sử dụng thường được cơ quan cấp phần mềm khuyến cáo rằng có thể chấp nhận một số rủi ro gây thiệt hại do không được đào tạo, tập huấn và không hiểu biết những hạn chế của mô hình nên khi áp dụng gây lỗi. SOBEK: Phần mềm này do Delft, Hà Lan phát triển, gồm phần dòng chảy và tính toán ô nhiễm 1,2 chiều, đã kết nối với công cụ GIS.
Đã sử dụng hệ phương trình Saint – Venant 1 chiều cho dòng chảy trong kênh sông. SOBEK cũng sử dụng lược đồ sai phân xen kẽ giống như MIKE 11. Các yếu tố ô nhiễm được mô phỏng bằng phương trình lan truyền chất 1 chiều có kể tới quá trình biến đổi sinh hóa của các chất ô nhiễm. Phương trình lan truyền chất một chiều được giải bằng phương pháp sai phân, mặc dù có các lựa chọn các sơ đồ, nhưng do bản chất của lược đồ sai phân, kết quả tính vẫn bị ảnh hưởng bởi hiện tượng khuếch tán số.
Qual2 – E : Phần mềm này do cơ quan bảo vệ mô trường của Mỹ (EPA) phát triển và đã được sử dụng rộng rãi ở Mỹ và một số nước châu Âu. Qual2-E đã được du nhập vào Việt Nam qua một số dự án. Qual2-E cũng sử dụng hệ phương trình Saint-Venant và lan truyền chất một chiều và giải bằng phương pháp sai phân và có thể sử dụng cho yếu tố ô nhiễm(BOD,DO, tảo, Nito, photpho,…). Nhược điểm của Qual2-E là chỉ áp dụng cho mạng sông đơn giản có dạng hình cây (không áp dụng cho mạng sông dạng mạch vòng), thiết diện sông phải đều dạng hình hình thang, hay hình chữ nhật và không chịu ảnh hưởng của thủy triều.
Giống như mô hình Q2E, mô hình Q2K được áp dụng cho trường hợp dòng chảy một chiều và hòa trộn đều theo chiều đứng và chiều ngang, trạng thái thủy lực ổn định. Q2K mô phỏng dòng chảy ổn định không đồng bộ. Q2K còn mô phỏng diễn biến nhiệt độ và chất lượng nước theo thời gian. Ngoài ra, các nguồn điểm, nguồn phân tán nhập vào hay thoát ra khỏi sông đều được mô phỏng trong mô hình Q2K này.
7 Duflow : Đây là phần mềm được phát triển bởi viện thủy lực (IHE) của Hà Lan, đại học công nghệ Deft, STOWA và trường đại học nông nghiệp Wageningen. Duflow được thiết kế để sử dụng cho nhiều mục tiêu (tính triều, lũ, sử dụng nước,…). Duflow cũng giải quyết các bài toán lan truyền chất trong kênh sông có các công trình. Mô hình SWAT Mô hình SWAT (soil and water assessment tools) được xây dựng để đánh giá tác động của việc sử dụng đất , của xói mòn và việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp trên một hệ thống lưu vực sông.
SWAT là mô hình thủy văn, dùng để diễn toán các quá trình vật lý liên quan đến sự chuyển động nước, sự chuyển động bùn cát, quá trình canh tác, diễn toán các yếu tố chất lượng nước như: dinh dưỡng(N,P), bùn cát, thuốc trừ sâu, kim loại nặng, coliform, fecal coliform.ở cửa ra của lưu vực. Mô hình SWAT yêu cầu số liệu đầu vào như sau: Mô hình số độ cao (DEM) với độ chính xác cao Các lớp thông tin địa hình cơ bản +Bản đồ mạng lưới sông suối +Bản đồ sử dụng đất +Bản đồ thảm phủ Bản đồ đất - Các thông tin chuyên ngành khí tượng thủy văn: lượng mưa , độ ẩm tương đối, bức xạ mặt trời, tốc độ gió, nhiệt độ trung bình(tối cao, tối thấp), số giờ nắng, lưu lượng dòng chảy, số liệu dòng chảy bùn cát. Trong nước Trong mấy thập kỷ gần đây cũng có nhiều mô hình toán chất lượng nước của nước ngoài đã được giới thiệu, ứng dụng cho các sông ngòi ở Việt Nam như các mô hình MIKE 11, MIKE 21, Qual2K, Qual2E,…; đồng thời một số mô hình chất 8 lượng nước đã được xây dựng, phát triển do các nhà khoa học ở Việt Nam như VRSAP, KOD1,… Do các yêu cầu của thực tiễn quy hoạch và sử dụng tài nguyên nước, ngoài sử dụng các công cụ phần mềm nước ngoài, nhiều chuyên gia trong nước đã tự xây dựng các bộ phần mềm, để khi cần thiết, có thể tự sửa đổi và cập nhật thuật toán, mã nguồn để có thể đáp ứng được các yêu cầu tính toán cụ thể. Các bộ phần mềm do các cán bộ trong nước xây dựng được áp dụng nhiều cho các dự án gồm: VRSAP: đây là bộ phần mềm được xem là đầu tiên cho tính toán thủy lực mạng kênh sông do cố PGS Nguyễn Như Khuê phát triển sau đợt thực tập tại Hà Lan vào năm 1978.
VRSAP đã được Phân viện Khảo sát Quy hoạch Thủy lợi Nam bộ( nay là Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam) sử dụng cho nhiều dự án quy hoạch cả dự án trong nước và quốc tế. KOD1 của GS-TSKH Nguyễn Ân Niên. Đây là phần mềm dựa trên sơ đồ sai phân hiện. Phần giao diện kết nối GIS và Database đang trong giai đoạn nâng cấp và hoàn thiện.
Mặc dù thời gian tính nhanh nhưng nhiều khi gặp vấn đề cân bằng toàn cục ảnh hưởng tới độ chính xác của kết quả. Trước đây khi tốc độ xử lý của máy tính còn chậm thì thuật toán hiện còn hữu ích. KOD1 chủ yếu được một số cán bộ của Viện Khoa học Thủy lợi sử dụng. HydroGIS của TS Nguyễn Hữu Nhân: đây là phần mềm mới được xây dựng trong một số năm gần đây, phần nối công cụ GIS, demo kết quả và giao diện khá tốt.
Tuy nhiên do tác giả ít công bố về thuật toán nên khó đánh gia. HydroGIS cũng giải hệ phương Saint-Venant một chiều bằng sơ đồ sai phân Preissmann, nhưng giải trực tiếp hệ sai phân bằng phương pháp lặp nên tốc độ tính toán chưa nhanh. Gần đây TS Nhân có thêm phần tính dòng chảy xiết bằng phương pháp sóng động lực, tuy nhiên trên vùng núi có những đoạn vừa chảy xiết, vừa chảy êm thì phương pháp sóng động lực không áp dụng được. Ngoài ra còn một số phần mềm khác do một số tác giả trong nước phát triển trong khuôn khổ các luận án hoặc các nghiên cứu riêng lẻ và còn ít được áp dụng cho các bài toán thực tế hoặc áp dụng theo nghĩa thử nghiệm.
9 Hiện nay các mô hình trên vẫn đang được ứng dụng để nghiên cứu đánh giá biến đổi chất lượng nước cho một số dự án cụ thể tùy thuộc vào điều kiện của sông suối, số liệu và yêu cầu nghiên cứu, những mô hình được ứng dụng nhiều như các mô hình MIKE, Qual2K, Qual2E. Tình hình nghiên cứu chất lượng nước trên sông Nậm Rốm 1. Tình hình chung Trong những năm gần đây, Điện Biên đã có sự chuyển biến mạnh mẽ về mặt khoa học kỹ thuật, có nhiều dự án nghiên cứu khoa học đã được thực hiện. Ngoài ra, trong các lĩnh vực như xây dựng, giao thông vận tải, y tế, an ninh quốc phòng.
đã đạt được những thành tựu đáng kể và có ứng dụng hiệu quả nhưng nhận thức về vai trò của KH&CN ở một bộ phận không nhỏ nhân dân và doanh nghiệp chưa đầy đủ. Do đó, các doanh nghiệp vẫn chưa mạnh dạn đầu tư, tìm kiếm và ứng dụng thành tựu KH&CN vào sản xuất … Chất lượng môi trường tỉnh Điện Biên đang ngày càng có xu hướng suy giảm, tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng cao. Quá trình đô thị hóa kéo theo sự gia tăng dân số đã gây nên áp lực lớn trong công tác bảo vệ môi trường. Sự phát triển kinh tế đã làm biến đổi các thành phần, chất lượng môi trường đất, nước, không khí trong toàn tỉnh; làm ảnh hưởng đến môi trường, sinh thái cũng như tác động đến sức khỏe cộng đồng.
Tình trạng ô nhiễm môi trường đô thị nằm ở khâu xử lý nước thải, chất thải rắn, bụi, khí thải và tiếng ồn. Theo thống kê của trung tâm nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, hiện nay dân số vùng nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh toàn tỉnh chỉ đạt 60%, phấn đấu năm 2010 đạt 80%. Nguồn tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức, đa dạng sinh học có nguy cơ giảm nhanh, tiềm ẩn xảy ra sự cố môi trường như động đất, cháy rừng, trượt lở đất, lũ bùn đá. Sông Nậm Rốm trước đây khi chưa tách tỉnh và thành lập thành phố Điện Biên Phủ thì chưa bị áp lực lớn của phát triển kinh tế xã hội, chất lượng nước nói chung tốt, nguồn nước sông có khả năng tự làm sạch cao, nước sông chưa bị ô 10 nhiễm đáng kể.