MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong các vấn đề môi trường tại thành phố Uông Bí hiện nay, ô nhiễm nước và khai thác tài nguyên nước bừa bãi đang là một vấn đề thu hút rất nhiều sự quan tâm của các cơ quan quản lý và người dân. Nhưng thực tế cho thấy khai thác sử dụng tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh còn nhiều bất cập, tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn, đặc biệt khi nhu cầu sử dụng nước tiếp tục tăng mạnh trong tương lai nhằm thỏa mãn các yêu cầu của phát triển kinh tế. Trong khi đó lượng nước có thể khai thác, sử dụng ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng, những mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình khai thác nước giữa các ngành liên tục xảy ra.
Do đó, yêu cầu đặt ra là cần phải có phương hướng giải quyết những vấn đề này. Qua nhiều năm liên tục thực hiện phát triển kinh tế - xã hội, thành phố Uông Bí là nơi có tốc độ phát triển cao, đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích kinh tế - xã hội là sự ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, đặc biệt là môi trường nước, không khí…vv. Sông Đá Bạc: Đoạn sông này nằm ở vùng cửa sông và là hạ du của các con sông lớn: sông Hồng, sông Thái Bình, nên nhận lượng nước lớn từ các sông này phân bổ vào do đó lưu lượng nước sông đủ khả năng pha loãng các chất gây ô nhiễm trong nước thải dọc theo sông (chủ yếu là nước thải nông nghiệp và nước thải của nhà máy nhiệt điện).
Do đó chất lượng nước còn khá tốt. Vấn đề chất lượng nước của sông chủ yếu là hàm lượng phù sa cao và xâm nhập mặn. Kết quả quan trắc độ mặn vào mùa kiệt trên sông Đá Bạc cho thấy độ mặn chỉ dao động trong phạm vi 0,1 - 0,5‰ vẫn có thể sử dụng cho tưới. Con sông này còn tiếp nhận các nguồn thải từ sông Sinh, sông Uông Đổ vào.
Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường nước sông Đá Bạc là phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của thành phố Uông Bí là vấn đề cần thiết và cấp bách. Việc đề xuất giải pháp giải pháp bảo vệ môi trường nước góp phần vào quá trình phát triển kinh tế xã hội. Đây cũng là cơ sở để cho thành phố Uông Bí hướng đến phát triển bền vững và đây cũng là lý do đề tài nghiên cứu “Đánh giá chất lượng môi trường nước thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường”. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước sông Đá Bạc, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm và bảo vệ môi trường nước sông Đá Bạc, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Nhiệm vụ nghiên cứu Tổng quan cơ sở lý luận về đánh giá chất lượng môi trường nước mặt Tổng hợp tài liệu hiện trạng khu vực nghiên cứu. Khảo sát hiện trạng và lập kế hoạch quan trắc khu vực nghiên cứu.
Lấy mẫu quan trắc, phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm khu vực nghiên cứu. Đánh giá chất lượng môi trường nước theo chỉ số chất lượng nước Đề xuất một số giải pháp. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học Bổ sung phương pháp luận trong nghiên cứu đánh giá tài nguyên nước mặt phục vụ phát triển kinh tế xã hội. - Ý nghĩa thực tiễn Tìm ra nguyên nhân ô nhiễm môi trường nước sông Đá Bạc của thành phố, đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường nước.
2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN C U 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Đánh giá chất lượng nước mặt theo phương pháp truyền thống Quan trắc môi trường nước là hoạt động quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đã được các cơ quan ban ngành trực thuộc Bộ Tài Nguyên và Môi trường Việt Nam đưa vào thực hiện từ năm 1994 đến nay [18]. Hoạt động quan trắc môi trường nhằm ghi nhận các thông tin về hiện trạng và diễn biến môi trường nhằm phục vụ cho việc xây dựng chiến lược, lập kế hoạch, chương trình BVMT. Quan trắc CLMT nước và không khí là hai hoạt động quan trắc môi trường chủ yếu hiện nay.
Công tác quan trắc môi trường bao gồm các bước cơ bản như sau: - Thiết lập kế hoạch quan trắc. - Thiết lập mạng lưới quan trắc. - Lấy mẫu và đo đạc tại hiện trường. - Phân tích trong phòng thí nghiệm.
- Xử lý số liệu. - Phân tích và đánh giá số liệu. - Viết báo cáo kết quả quan trắc. Kết quả quan trắc thường được so sánh với tiêu chuẩn, Quy chuẩn về môi trường hiện hành để đánh giá về mức độ ô nhiễm của môi trường.
Hiện nay, kết quả quan trắc đã được sử dụng trong một số các mô hình tính toán để xây dựng các dự báo về diễn biến môi trường theo các kịch bản phát triển kinh tế xã hội tại địa phương. Nhược điểm của phương pháp đánh giá chất lượng nước thông qua việc so sánh kết quả quan trắc chất lượng nước với giới hạn cho phép của Quy chuẩn Việt Nam hiện hành là: - Khi đánh giá qua từng thông số riêng biệt sẽ không nói lên diễn biến chất lượng tổng quát của con sông hay đoạn sông, do vậy khó so sánh CLN từng vùng của một con sông, so sánh CLN của con sông này với con sông khác, CLN thời điểm này với thời điểm khác (theo tháng, theo mùa), CLN quá khứ, hiện tại và tương lai…Vì thế, sẽ gây khó khăn cho công tác theo dõi, giám sát diễn biến CLN; khó đánh giá hiệu quả đầu tư để bảo vệ nguồn nước và kiểm soát ô nhiễm nước…. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Khi đánh giá chất lượng nước qua các thông số riêng biệt, có thể có thông số đạt, có thông số vượt so giới hạn cho phép của Quy chuẩn. Điều đó chỉ nói lên CLN đối với từng thông số riêng biệt và chỉ các nhà khoa học hoặc các nhà chuyên môn mới hiểu được.
Vì vậy, khó thông tin về tình hình CLN cho cộng đồng dân chúng, gây khó khăn khi các nhà quản lý đưa ra các quyết định phù hợp về bảo vệ, khai thác nguồn nước. Đánh giá chất lượng nước mặt theo chỉ số chất lượng nước Chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index – WQI) là một trong các loại chỉ số môi trường (Environmental Index), được tính toán từ các thông số quan trắc chất lượng nước, dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng nguồn nước đó. Chỉ số chất lượng nước được biểu diễn qua thang điểm từ 0 đến 100 [10]. Phương pháp đánh giá chất lượng nước thông qua chỉ số WQI đã khắc phục được các nhược điểm của phương pháp so sánh với quy chuẩn.
Phương pháp WQI có khả năng phân loại mức độ ô nhiễm của nguồn nước trên thang điểm. - Ưu điểm của WQI trong đánh giá diễn biến chất lượng nước Việc sử dụng WQI có thể khắc phục được các hạn chế trong cách đánh giá nghiên cứu diễn biến CLN theo phương pháp truyền thống là áp dụng tiêu chuẩn cho từng thông số riêng biệt. Từ các tài liệu tham khảo được về phương pháp nghiên cứu CLN bằng chỉ số WQI, có thể thấy các ưu điểm và hạn chế của phương pháp này so với phương pháp truyền thống – đánh giá bằng quy chuẩn cho từng thông số riêng biệt theo bảng 1.1: So sánh ưu điểm và hạn chế của phương pháp WQI và phương pháp đánh giá theo quy chuẩn truyền thống Phƣơng pháp đánh giá bằng quy chuẩn Phƣơng pháp đánh giá CLN bằng WQI Khó phân loại CLN cho một mục đích cụ Cho phép phân loại CLN cho một mục thể đích sử dụng nhất định Hạn chế trong việc biểu diễn CLN tổng Cho phép so sánh CLN theo thời gian quát, khó phân vùng và phân loại CLN (theo tháng, năm, theo mùa, theo sự sông, do đó khó khăn trong việc so sánh kiện…) và không gian (đoạn sông, sông CLN theo thời gian và không gian này với sông khác…) 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phƣơng pháp đánh giá bằng quy chuẩn Phƣơng pháp đánh giá CLN bằng WQI Khó khăn cho công tác theo dõi diễn biến Thuận lợi hơn trong việc theo dõi và đánh CLN, đánh giá hiệu quả đầu tư để bảo vệ giá diễn biến CLN để kịp thời có những nguồn nước và kiểm soát ô nhiễm nước giải pháp quản lý thích hợp và đánh giá thuận lợi cho việc đánh giá hiệu quả đầu tư Khó sử dụng phổ biến, chỉ các nhà Cho phép ước lượng hóa và có khả năng nghiên cứu, nhà khoa học, giới chuyên mô phỏng các tác động tổng hợp của nồng môn mới hiểu, do đó khó thông tin cho độ nhiều thành phần, trong đó đã tính đến cộng đồng và các cơ quan quản lý, nhà mức độ đóng góp quan trọng của từng lãnh đạo để đưa ra các quyết định phù hợp thông số, do đó đơn giản hóa và dễ hiểu; về bảo vệ và khai thác nguồn nước thuận lợi cho việc sử dụng phổ biến trong cộng đồng. a) Các nghiên cứu xây dựng chỉ số chất lượng trên thế giới Trên thế giới đã có rất nhiều quốc gia áp dụng WQI vào thực tiễn, cũng như có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về các mô hình WQI, điển hình nhất là mô hình WQI-NFS của Hòa Kỳ.
WQI tại Hoa Kỳ được thực hiện từ những năm 70 của thế kỷ 20 và hiện đã được xây dựng cho mỗi bang, đa số các bang tiếp cận theo phương pháp của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ (National Sanitation Foundation – NSF) – gọi tắt là WQI – NSF. Đây cũng là bộ chỉ số được áp dụng tại nhiều quốc gia [18]. NSF –WQI được xây dựng bằng cách sử dụng kỹ thuật Delphi để xác định các thông số CLN lựa chọn (xi), sau đó xác lập phần trọng lượng đóng góp của từng thông số (wi) và xây dựng các đồ thị chuyển đổi từ các giá trị xi (giá trị đo được của thông số lựa chọn xi) sang chỉ số phụ (qi). Công thức tính: NSF – WQI được xây dựng theo một trong 2 công thức: Công thức dạng tổng – WQIA: ∑ Công thức dạng tích – WQIM: ∏ Trong đó: Wi: là trọng số (là số biểu thị độ quan trọng của thông số chất lượng nước) 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.