Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nước là nguồn tài nguyên thiết yếu cho sự sống, tham gia vào mọi hoạt động sinh hoạt, sản xuất và đời sống xã hội. Nhu cầu sử dụng nước sạch bảo đảm vệ sinh, an toàn dinh dưỡng là mối quan tâm hàng đầu mang tính toàn cầu. Cùng với sự phát triển của công nghệ xử lý nước, các sản phẩm nước uống đóng chai, nước lọc qua hệ thống lọc tinh lọc, khử trùng ngày càng phổ biến do tính tiện lợi và khắc phục được mùi clo của nước máy. Tuy nhiên, tại các nước đang phát triển như Việt Nam, việc một số cơ sở sản xuất vì lợi nhuận chưa tuân thủ đầy đủ các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP) đã dẫn tới nguy cơ ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt và nước uống. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 1.300 triệu lượt người trên thế giới mắc tiêu chảy do tiêu thụ thực phẩm ô nhiễm vi sinh vật; tại Việt Nam ước tính có khoảng 8 triệu người bị ngộ độc thực phẩm hoặc chịu các tác động sức khỏe liên quan đến vi sinh vật mỗi năm. Các đánh giá chuyên môn tại Viện Pasteur TP.HCM cũng từng ghi nhận tỷ lệ mẫu nước sinh hoạt ô nhiễm vi khuẩn chỉ thị Coliform và Escherichia coli (E. coli) lên tới 98%.
Xuất phát từ thực trạng trên, đề tài khóa luận "Đánh giá mức độ ô nhiễm vi sinh vật trong nước qua lọc trên địa bàn thành phố Thái Nguyên" của tác giả Đỗ Thị Thanh (ngành Công nghệ sinh học, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên) được triển khai nhằm khảo sát thực tế chất lượng vi sinh vật của các nguồn nước qua lọc đang lưu hành.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của khóa luận gồm:
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá mức độ ô nhiễm vi sinh vật trong nước qua lọc trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.
- Mục tiêu cụ thể: Nghiên cứu tình trạng ô nhiễm trong nước qua lọc đối với 5 chỉ tiêu vi sinh vật gây bệnh và chỉ thị vệ sinh, bao gồm: Coliform, Escherichia coli (E. coli), Pseudomonas aeruginosa (P. aeruginosa), Streptococci feacal (liên cầu khuẩn phân) và Bào tử vi khuẩn kị khí khử sunphit (Clostridium).
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Khảo sát tình hình sử dụng nước qua lọc tại các phường thuộc TP. Thái Nguyên; định lượng và phân lập các loài vi khuẩn chỉ tiêu; so sánh tỷ lệ nhiễm khuẩn giữa các nhóm mẫu và theo dõi biến động tỷ lệ nhiễm theo các tháng trong năm (từ tháng 4/2016 đến tháng 3/2017).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nước qua lọc (bao gồm nước uống đóng bình, nước qua máy lọc, bình lọc) trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.
- Phạm vi không gian: Các điểm khảo sát và lấy mẫu tại 4 phường: Đồng Quang, Quán Triều, Trưng Vương và Phan Đình Phùng thuộc thành phố Thái Nguyên.
- Địa điểm thực nghiệm: Khoa Xét nghiệm – Trung tâm Y tế dự phòng TP. Thái Nguyên.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2016 đến hết tháng 5/2017 (kết hợp chuỗi số liệu theo dõi từ tháng 4/2016 đến tháng 3/2017).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở vi sinh vật học môi trường và an toàn thực phẩm, tập trung vào các nhóm vi sinh vật chỉ thị mức độ ô nhiễm phân, vi khuẩn gây bệnh cơ hội và vi khuẩn kị khí tạo bào tử:
- Coliforms & Escherichia coli: Trực khuẩn Gram âm, kỵ khí tùy tiện, lên men lactose sinh acid và sinh hơi ở 37°C hoặc 44°C trong 24–48 giờ. E. coli là chỉ thị vệ sinh trực tiếp nguồn gốc nhiễm phân người và động vật máu nóng.
- Pseudomonas aeruginosa: Trực khuẩn Gram âm, hiếu khí, có khả năng sinh sắc tố pyocyanin màu xanh da trời/xanh lá cây hoặc phát huỳnh quang dưới ánh sáng tử ngoại (UV), gây nhiễm trùng cơ hội, viêm phổi, nhiễm trùng huyết và có tính kháng kháng sinh cao.
- Streptococci feacal (Liên cầu khuẩn phân): Cầu khuẩn Gram dương xếp chuỗi, có khả năng khử hóa chất 2,3,5-Triphenyltetrazolium Chloride (TTC) và thủy phân aesculin trong môi trường mật. Tỷ số Fecal coliforms / Fecal streptococci (FC/FS) được dùng để phân biệt nguồn ô nhiễm phân người hay phân động vật.
- Bào tử vi khuẩn kị khí khử sunphit (Clostridium): Trực khuẩn kị khí sinh nội bào tử chịu nhiệt, có khả năng khử sunfit thành sunfua tạo kết tủa đen với muối sắt.
Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn quốc gia áp dụng:
- QCVN 01:2009/BYT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống (quy định giới hạn các chỉ tiêu Coliform tổng số, E. coli trong 100 ml nước ăn uống = 0).
- TCVN 6187-1:2009 (ISO 9308-1:2000): Chất lượng nước – Phát hiện và đếm vi khuẩn Coliform, vi khuẩn Coliform chịu nhiệt và Escherichia coli giả định (Phương pháp màng lọc).
- TCVN 8881:2011: Phát hiện và đếm vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa bằng phương pháp màng lọc.
- TCVN 6189-2:2009 (ISO 7899-2:2000): Phát hiện và đếm khuẩn liên cầu phân (Streptococcus fecalis) bằng phương pháp màng lọc.
- TCVN 6191-2:1996: Phát hiện và đếm số bào tử vi khuẩn kị khí khử sunphit (Clostridium) bằng phương pháp màng lọc.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập dữ liệu:
- Phương pháp lấy mẫu: Lấy mẫu bằng chai thủy tinh nút mài vô trùng (sấy 160°C trong 2 giờ hoặc hấp 121°C trong 30–60 phút). Khử trùng vòi nước bằng ngọn lửa bông cồn, xả nước 2–3 phút trước khi hứng mẫu; bảo quản mẫu dưới 5°C và phân tích trong vòng 24 giờ.
- Phương pháp định lượng (Màng lọc - Membrane Filtration): Sử dụng màng lọc cellulose/polypropylene vô trùng kích thước lỗ 0,45 µm (hoặc 0,2 µm đối với bào tử kị khí). Lọc 50–100 ml mẫu qua hệ thống bơm hút chân không, đặt màng lọc lên các đĩa thạch dinh dưỡng chọn lọc và nuôi cấy ở nhiệt độ quy định.
- Môi trường nuôi cấy và thử nghiệm khẳng định:
- Coliform/E. coli: Phân lập trên thạch TTC (Triphenyltetrazolium Chloride); khẳng định sinh hơi trên Pepton lactoza / EC broth / Brila broth, thử phản ứng sinh Indol bằng thuốc thử Kovac’s và thử nghiệm enzyme oxidase.
- P. aeruginosa: Phân lập trên thạch Cetrimide (CN agar) / Pseudomonas; khẳng định trên môi trường King’s B, canh thang acetamide (nhỏ thuốc thử Nessler xác định giải phóng ammoniac), kiểm tra huỳnh quang dưới đèn UV và phản ứng oxidase.
- Streptococci feacal: Phân lập trên thạch Slanetz & Bartley (chứa natri azid và TTC); khẳng định trên thạch mật aesculin-azid ở 44°C và thử phản ứng catalase với dung dịch H2O2 30 g/l.
- Bào tử vi khuẩn kị khí khử sunphit: Xử lý nhiệt mẫu nước ở 80°C trong 10 phút để tiêu diệt tế bào sinh dưỡng; lọc qua màng 0,2 µm; nuôi cấy trên thạch sắt sunfit triptoza (TSC) trong điều kiện kị khí ở (37 ± 1)°C trong 20–44 giờ; đếm khuẩn lạc có màu đen.
- Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê sinh học theo phương pháp của tác giả Chu Văn Mẫn (2002).
Nội dung chính theo từng chương
Khóa luận được cấu trúc thành 5 phần chính, phản ánh đầy đủ tiến trình từ tổng quan lý thuyết, thiết kế thực nghiệm đến kết quả phân tích:
Phần 1: Mở đầu
Trình bày tính cấp thiết của vấn đề vệ sinh an toàn nguồn nước trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa nhanh và nhu cầu tiêu thụ nước qua lọc ngày càng lớn tại các đô thị. Đưa ra mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể, ý nghĩa khoa học (bổ sung cơ sở dữ liệu vi sinh trên địa bàn) và ý nghĩa thực tiễn (cung cấp căn cứ cho các cơ quan quản lý y tế dự phòng và nâng cao nhận thức cộng đồng).
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Hệ thống hóa các khái niệm về nước qua lọc (phương pháp truyền thống và công nghệ xử lý công nghiệp), các con đường xâm nhiễm vi sinh vật vào nguồn nước (từ động vật, nước ngầm, nước bề mặt, không khí, dụng cụ sản xuất). Trình bày chi tiết đặc điểm sinh học, hình thái, tính chất nuôi cấy, độc tố, khả năng gây bệnh và các thử nghiệm sinh hóa của 5 nhóm vi sinh vật: Coliform, E. coli, Pseudomonas aeruginosa, Streptococci feacal và vi khuẩn kị khí khử sunphit.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Mô tả chi tiết địa điểm nghiên cứu (Khoa xét nghiệm – Trung tâm Y tế dự phòng TP. Thái Nguyên), thời gian (tháng 11/2016 – 05/2017), danh mục trang thiết bị (tủ ấm SANYO, cân phân tích Sartorius, tủ sấy GmbH, tủ an toàn sinh học cấp II BIOAIR, máy đo pH, nồi hấp Memmert, máy Vortexer Bio-Rad, bơm lọc chân không...). Trình bày quy trình lấy mẫu, công thức pha chế 9 loại môi trường, hóa chất và sơ đồ phân tích vi sinh theo từng tiêu chuẩn TCVN tương ứng.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này tập trung toàn bộ dữ liệu khảo sát và thực nghiệm của đề tài, bao gồm:
- Khảo sát tình hình sử dụng nước: Điều tra 146 điểm tại 4 phường cho thấy tỷ lệ sử dụng nước qua lọc (nước đóng chai, bình lọc, máy lọc) đạt 100% tại Đồng Quang (26/26), 90% tại Quán Triều (45/50), 80% tại Phan Đình Phùng (20/25), riêng Trưng Vương đạt 22,22% (10/45) do người dân vẫn duy trì thói quen lọc thủ công và đun sôi.
| Địa điểm điều tra |
Số lượng điều tra |
Số đơn vị dùng nước qua lọc |
Tỷ lệ (%) |
Số đơn vị không sử dụng |
Tỷ lệ (%) |
| Đồng Quang |
26 |
26 |
100,00 |
0 |
0,00 |
| Quán Triều |
50 |
45 |
90,00 |
5 |
10,00 |
| Trưng Vương |
45 |
10 |
22,22 |
35 |
77,78 |
| Phan Đình Phùng |
25 |
20 |
80,00 |
5 |
20,00 |
- Đánh giá mức độ ô nhiễm vi sinh trên 47 mẫu nước qua lọc: Tiến hành trên 2 nhóm mẫu ký hiệu MMT (24 mẫu) và MM (23 mẫu):
- Coliform: 23/47 mẫu dương tính (49,1%). Có 37/47 mẫu đạt tiêu chuẩn (78,8%) và 10/47 mẫu không đạt tiêu chuẩn (21,2%) theo QCVN 01:2009/BYT. Cường độ nhiễm dao động từ 3 đến 20 CFU/100ml.
- E. coli: 14/47 mẫu dương tính (29,9%). Có 40/47 mẫu đạt tiêu chuẩn (85,1%) và 7/47 mẫu không đạt (14,8%). Cường độ nhiễm từ 1 đến 10 vk/100ml.
- Pseudomonas aeruginosa: 15/47 mẫu dương tính (32,05%). Có 42/47 mẫu đạt tiêu chuẩn (89,4%) và 5/47 mẫu không đạt (10,7%) theo TCVN 8881:2011. Cường độ nhiễm từ 1 đến 5 vk/100ml.
- Streptococci feacal: 9/47 mẫu dương tính (19%). Có 7/47 mẫu đạt tiêu chuẩn (14,85%) và 2/47 mẫu không đạt (4,15%, đều thuộc nhóm MMT) theo TCVN 6189-2:2009. Cường độ nhiễm từ 4 đến 9 vk/100ml.
- Bào tử kị khí khử sunphit: 7/47 mẫu dương tính (14,75%). Có 4/47 mẫu đạt tiêu chuẩn (8,4%) và 3/47 mẫu không đạt (6,3%) theo TCVN 6191-2:1996. Cường độ nhiễm từ 1 đến 20 vk/100ml.
| Chỉ tiêu vi sinh |
Số mẫu kiểm tra |
Số mẫu dương tính |
Tỷ lệ dương tính (%) |
Số mẫu đạt TCVN/QCVN |
Tỷ lệ đạt (%) |
Số mẫu không đạt |
Tỷ lệ không đạt (%) |
Cường độ nhiễm (thấp – cao) |
| Coliform |
47 |
23 |
49,10 |
37 |
78,80 |
10 |
21,20 |
3 – 20 CFU/100ml |
| E. coli |
47 |
14 |
29,90 |
40 |
85,10 |
7 |
14,80 |
1 – 10 vk/100ml |
| P. aeruginosa |
47 |
15 |
32,05 |
42 |
89,40 |
5 |
10,70 |
1 – 5 vk/100ml |
| Streptococci feacal |
47 |
9 |
19,00 |
7 |
14,85 |
2 |
4,15 |
4 – 9 vk/100ml |
| Bào tử kị khí khử sunfit |
47 |
7 |
14,75 |
4 |
8,40 |
3 |
6,30 |
1 – 20 vk/100ml |
- Theo dõi biến động theo thời gian (chuỗi 12 tháng, N=214 mẫu):
- Tỷ lệ nhiễm Coliform và E. coli phân hóa rõ theo mùa: các tháng mùa nóng ẩm (tháng 4 đến tháng 10) có tỷ lệ nhiễm cao vượt trội (Coliform từ 82,3% đến 91,3%, đỉnh điểm tháng 7 đạt 91,3%; E. coli từ 75,0% đến 88,0%, đỉnh điểm tháng 6 đạt 88,0%).
- Các tháng mùa lạnh (tháng 11 đến tháng 2 năm sau), tỷ lệ nhiễm giảm rõ rệt (Coliform xuống 50,0%–78,5%, thấp nhất tháng 1 là 50,0%; E. coli xuống 43,7%–71,4%, thấp nhất tháng 1 là 43,7%) với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.
- Các chỉ tiêu P. aeruginosa, Streptococci feacal và bào tử kị khí khử sunphit xuất hiện rải rác và không biểu hiện sự dao động mùa vụ rõ nét.
- Minh chứng thực nghiệm: Trình bày hình ảnh khuẩn lạc trên thạch TTC, thạch Slanetz & Bartley, thạch mật aesculin, thạch CN, môi trường King’s B, thạch sunfit triptoza và kết quả các phản ứng sinh hóa (thử oxidase, thử sinh indol).
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các phát hiện định lượng chính của đề tài và đưa ra các khuyến nghị về quản lý chất lượng, mở rộng đối tượng khảo sát và định hướng tiêu dùng an toàn.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Trong 47 mẫu nước qua lọc được kiểm nghiệm, có 36 mẫu đạt quy chuẩn vệ sinh ATTP và 11 mẫu không đạt quy chuẩn kỹ thuật (vượt giới hạn cho phép của Bộ Y tế).
- Coliform là chỉ tiêu ô nhiễm phổ biến nhất, chiếm 42,4% trong tổng số các vi phạm của 11 mẫu không đạt chuẩn (10 mẫu vượt quy định, cường độ nhiễm cao nhất đạt 20 CFU/100ml).
- E. coli đứng thứ hai, chiếm 30,2% trong các trường hợp không đạt chuẩn (7 mẫu vượt quy định, cường độ cao nhất 10 vk/100ml).
- P. aeruginosa có 5 mẫu không đạt chuẩn (chiếm tỷ lệ vi phạm đứng thứ ba), bào tử kị khí khử sunphit có 3 mẫu không đạt (12,6%) và Streptococci feacal có 2 mẫu không đạt (8,3%).
- Phân tích chuỗi thời gian 214 mẫu chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) về tỷ lệ nhiễm Coliform và E. coli giữa mùa nóng (tháng 4 – tháng 10) và mùa lạnh (tháng 11 – tháng 2).
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Đối với cơ quan quản lý: Cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm soát chất lượng định kỳ và đột xuất đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nước uống đóng chai, nước đóng bình trên địa bàn.
- Đối với cơ sở sản xuất: Phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật khử trùng, bảo dưỡng định kỳ hệ thống màng lọc vi sinh, vệ sinh chai/bình chứa và bảo đảm điều kiện vô trùng trong khâu chiết rót, đóng gói.
- Đối với người tiêu dùng: Nâng cao nhận thức về an toàn vệ sinh nguồn nước, chủ động lựa chọn các sản phẩm nước uống đã được cơ quan y tế kiểm định chất lượng, không nên chủ quan vào cảm quan nhãn mác hoặc việc đun sôi/lọc đơn giản.
- Hướng mở rộng nghiên cứu: Cần lặp lại các đợt khảo sát với tần suất nhiều hơn, đồng thời mở rộng đối tượng kiểm tra sang nước máy, nước giếng khoan và các loại nước giải khát thương mại để truy xuất chính xác nguồn gốc ô nhiễm.
Đóng góp của đề tài
Tác giả đã cung cấp một bộ dữ liệu thực nghiệm khách quan về hiện trạng ô nhiễm vi sinh vật trong nước qua lọc tại thành phố Thái Nguyên vào giai đoạn 2016–2017. Đề tài đối chiếu trực tiếp các kết quả phân lập với các tiêu chuẩn quốc gia (TCVN, QCVN) và so sánh tương quan với các công bố quốc tế (như nghiên cứu của Gholam Resa.K, Papapetropoulou, S. Edberg về Pseudomonas), làm rõ nguy cơ ô nhiễm vi sinh trong phân khúc nước uống gia đình và công sở.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu mới chỉ tập trung phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật (Coliform, E. coli, P. aeruginosa, Streptococci feacal, bào tử kị khí khử sunphit) mà chưa tích hợp đánh giá các chỉ tiêu hóa lý (kim loại nặng, hàm lượng khoáng, chất hữu cơ, pH, độ cứng) trong cùng mẫu nước. Dung lượng mẫu thực nghiệm chuyên sâu còn dừng ở mức 47 mẫu tại 4 phường nội thành.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Thực hiện khảo sát lặp lại nhiều chu kỳ với cỡ mẫu lớn hơn; mở rộng phạm vi địa bàn ra các khu vực ngoại thành và các loại hình nguồn nước khác (nước giếng ngầm, nước cấp sinh hoạt đô thị, nước giải khát đóng chai); kết hợp phân tích toàn diện cả hai nhóm chỉ tiêu hóa lý và vi sinh để xác định căn nguyên gây suy giảm chất lượng nước sau lọc.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo thực nghiệm phù hợp cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Công nghệ sinh học, Vi sinh vật học, Công nghệ thực phẩm, Kỹ thuật môi trường và Y tế công cộng đang thực hiện các đề tài về kiểm nghiệm vi sinh vật trong nước và thực phẩm.
- Cán bộ kỹ thuật phòng xét nghiệm tham khảo quy trình thực hành thao tác màng lọc (Membrane Filtration), pha chế môi trường chọn lọc (TTC, CN agar, Slanetz & Bartley, King's B, TSC) và các phản ứng khẳng định sinh hóa theo hệ thống TCVN/ISO.
- Cơ quan quản lý an toàn thực phẩm và các doanh nghiệp sản xuất nước đóng chai tham khảo số liệu thực tế để hoàn thiện quy trình kiểm soát vi sinh vật trong chuỗi sản xuất và bảo quản sản phẩm.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận khảo sát những chỉ tiêu vi sinh vật nào trong nước qua lọc?
Khóa luận đánh giá 5 chỉ tiêu vi sinh vật: Coliform tổng số, Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa, Streptococci feacal (liên cầu khuẩn phân) và Bào tử vi khuẩn kị khí khử sunphit (Clostridium).
2. Phương pháp phân tích định lượng vi sinh vật chủ đạo được sử dụng là gì?
Tác giả sử dụng phương pháp màng lọc (kích thước lỗ lọc 0,45 µm và 0,2 µm) kết hợp nuôi cấy trên môi trường thạch đặc chọn lọc và các phép thử khẳng định sinh hóa (thử oxidase, thử sinh indol với thuốc thử Kovac's, thử sinh ammoniac với thuốc thử Nessler, kiểm tra huỳnh quang dưới đèn UV, thử catalase và phản ứng trên thạch mật aesculin-azid).
3. Tỷ lệ mẫu nước không đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm là bao nhiêu?
Trong tổng số 47 mẫu nước qua lọc được kiểm nghiệm chuyên sâu, có 11 mẫu không đạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế (chiếm 23,4%), trong đó chỉ tiêu Coliform có 10 mẫu vượt quy định, E. coli có 7 mẫu vượt quy định, P. aeruginosa có 5 mẫu, bào tử kị khí khử sunfit có 3 mẫu và Streptococci feacal có 2 mẫu không đạt.
4. Khảo sát tình hình sử dụng nước qua lọc tại 4 phường cho kết quả như thế nào?
Tỷ lệ sử dụng nước qua lọc (nước đóng chai, bình lọc, máy lọc) đạt 100% tại phường Đồng Quang (26/26 điểm), 90% tại Quán Triều (45/50 điểm), 80% tại Phan Đình Phùng (20/25 điểm), riêng phường Trưng Vương chỉ đạt 22,22% (10/45 điểm) do phần lớn người dân vẫn dùng phương pháp lọc thủ công kết hợp đun sôi.
5. Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn biến động theo mùa như thế nào trong 12 tháng theo dõi?
Theo dõi trên 214 mẫu từ tháng 4/2016 đến tháng 3/2017 cho thấy tỷ lệ nhiễm Coliform và E. coli tăng cao vào các tháng nhiệt độ môi trường cao (tháng 4 đến tháng 10, đỉnh điểm Coliform đạt 91,3% vào tháng 7 và E. coli đạt 88,0% vào tháng 6) và giảm rõ rệt vào mùa lạnh (tháng 11 đến tháng 2 năm sau, thấp nhất vào tháng 1 với Coliform 50,0% và E. coli 43,7%), sự sai khác có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Đỗ Thị Thanh đã khảo sát thực trạng sử dụng và phân tích định lượng mức độ ô nhiễm 5 chỉ tiêu vi sinh vật trong nước qua lọc tại thành phố Thái Nguyên theo các tiêu chuẩn TCVN và QCVN hiện hành. Kết quả chỉ ra 11/47 mẫu nước không đạt quy chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, trong đó Coliform và E. coli là hai tác nhân ô nhiễm chiếm tỷ lệ cao nhất và có xu hướng tăng mạnh vào các tháng mùa hè. Công trình là tài liệu thực nghiệm cụ thể, đóng góp cơ sở dữ liệu vi sinh phục vụ công tác giám sát y tế dự phòng và kiểm soát quy trình sản xuất nước uống đóng chai tại địa phương.