Đặt vấn đề Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là nhu cầu thiết yếu của sự sống, đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người, nước còn vai trò quan trọng trong hoạt động của tất cả các ngành, lĩnh vực cũng như mọi vấn đề của đời sống, xã hội. Nước sạch phải đảm bảo giá trị dinh dưỡng, vệ sinh và an toàn là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu, nó không chỉ trong phạm vi mỗi quốc gia hay từng khu vực mà nó là một vấn đề được quan tâm trên phạm vi toàn cầu. Trước những nhu cầu bức thiết đó, từ vài chục năm nay, công nghệ xử lý nước uống đã không ngừng phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới. Bên cạnh các loại nước đóng chai đa dạng, đủ kiểu, đủ cỡ, đồng thời chúng ta cũng thấy xuất hiện các công nghệ phụ thuộc, như máy lọc, máy làm lạnh nước, những dụng cụ khử trùng và khử chất bẩn trong nước uống.
Theo Tổ chức nước uống đóng chai quốc tế (IBWA), dân chúng ưa chuộng nước đóng chai vì mùi vị không gắt, không hôi mùi chlorine như nước máy, lại tinh khiết và bổ dưỡng cho sức khỏe. Nước được đựng trong các chai thủy tinh hay bằng plastic rất đẹp mắt, tiện lợi. Bởi những lý do này, nên nhiều người đã chọn nước đóng chai hay nước lọc để uống. Tuy nhiên, ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt ở các nước đang phát triển (Việt Nam) người sản xuất thường chỉ quan tâm tới lợi nhuận trước mắt mà sẵn sàng bỏ qua các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm (ATVSTP).
Do vậy, nguồn nước sinh hoạt nói chung và các loại nước uống đóng chai nói riêng bị ô nhiễm sẽ là nguy cơ đe dọa sức khỏe con người. Theo đánh giá của tổ chức Y tế thế giới (WHO) hàng năm có khoảng 1300 triệu lượt người trên thế giới bị tiêu chảy, trong đó nguyên nhân chính là do sử dụng thực phẩm ô nhiễm bởi vi sinh vật. Mỗi năm Việt Nam có 8 triệu người (chiếm xấp xỉ 1/10 2 tổng dân số) bị ngộ độc thực phẩm hoặc ngộ độc do liên quan đến ô nhiễm vi sinh vật trong thực phẩm. Tại Hội nghị khoa học 2006 kỷ niệm 115 năm thành lập Viện Pasteur TP.HCM ngày 30/11/2006, các chuyên gia đã tỏ ra lo ngại tỷ lệ nhiễm khuẩn cao ở nước sinh hoạt.
Trong đó, tỷ lệ các mẫu nước ô nhiễm vi khuẩn Coliform và E. coli chiếm tỷ lệ cao nhất, đến 98% (theo TCVN 5502 : 2003 thì chỉ tiêu này là 0). Điều này cho thấy, điều kiện vệ sinh nguồn nước sinh hoạt không đảm bảo. Nguyên nhân có thể do nguồn nước đã bị ô nhiễm; hoặc bị nhiễm khuẩn từ dụng cụ, công nhân; cũng có thể do qui trình sản xuất không đảm bảo các yêu cầu vệ sinh.
Ngoài vi khuẩn Coliform, E. coli, nước uống qua lọc còn bị nhiễm các vi khuẩn gây bệnh khác như Pseudomonas, Streptococcifeacal… Ở Việt Nam, an toàn vệ sinh thực phẩm là một lĩnh vực mới, chưa được quan tâm đầy đủ, nhất là an toàn vệ sinh đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh nước uống đóng chai, nước uống qua lọc. Bộ y tế cũng đã tiến hành một số biện pháp để bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng nhưng mới chỉ quan tâm chủ yếu đến thực phẩm có nguồn gốc động vật. Tuy nhiên, thực tế các vụ ngộ độc thực phẩm cho thấy ô nhiễm thực phẩm xảy ra nhiều khi do nước uống.
Từ thực trạng và đòi hỏi ngày càng khắt khe của xã hội về chất lượng vệ sinh đối với các loại nước uống qua lọc hiện nay, thiết nghĩ cần sớm có những đề tài nghiên cứu cụ thể về sự ô nhiễm vi sinh vật gây bệnh ở các sản phẩm nước uống trên thị trường, từ đó đưa ra được những giải pháp cho vấn đề ATVSTP. Xuất phát từ đòi hỏi cấp thiết đó và nguyện vọng bản thân dưới sự hướng dẫn của ThS. Bùi Đình Lãm và ThS. Nguyễn Thị Lan Hương, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá mức độ ô nhiễm vi sinh vật trong nước qua lọc trên địa bàn thành phố Thái Nguyên”.
Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát - Đánh giá mức độ ô nhiễm vi sinh vật trong nước qua lọc trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.Mục tiêu cụ thể - Nghiên cứu tình trạng ô nhiễm của nước qua lọc, về một số chỉ tiêu vi khuẩn gây bệnh như Coliform, Escherichia coli (E. coli), Pseudomonas aeruginosa (P. aeruginosa), Streptococcifeacal (liên cầu khuẩn), Bào tử vi khuẩn kị khí khử sunphit, ở nước uống qua lọc khu vực TP Thái Nguyên.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.Ý nghĩa khoa học. - Xác định được tỉ lệ nhiễm vi khuẩn hiếu khí Coliform, Escherichia coli (E. coli), Pseudomonas aeruginosa (P. aeruginosa), Streptococci feacal (liên cầu khuẩn), Bào tử vi khuẩn kị khí khử sunphit trong nước qua lọc trên địa bàn tỉnh thái nguyên.
- Đề xuất được các phương pháp đảm bảo vệ sinh an toàn. - Giúp sinh viên tổng hợp và vận dụng kiến thức đã học vào thực tế. Ý nghĩa thực tiễn. - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho công tác quản lí khai thác và sử dụng nước qua lọc, nâng cao ý thức an toàn vệ sinh và bảo vệ sức khỏe con người.
4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu về nƣớc 2. Khái niệm nước qua lọc. - Nước lọc là nước đã qua xử lý (lọc bỏ các tạp chất hoặc vi khuẩn từ nước ngọt) dùng để uống hoặc sử dụng cho các mục đích khác như sinh hoạt, sản xuất.
Nước lọc được tạo ra có thể bằng các phương pháp truyền thống như chưng, cất hoặc lọc thủ công (dùng lưới, bông, than, cát,. để loại bỏ các tạp chất hoặc cặn bã) và cũng có thể được tạo ra bằng phương pháp công nghiệp thông qua hoạt động của các nhà máy lọc nước, khi đó nguồn nước sẽ được xử lý bằng các công nghệ, hóa chất, vật lí, vi sinh vật. tạo ra sản phẩm chất lượng cao đủ để có thể tiêu thụ hoặc sử dụng và ít có nguy cơ gây tổn hại lâu dài hoặc ngay lập tức. - Trong hầu hết các nước phát triển, nước lọc được cung cấp cho thương mại, hộ gia đình để sinh hoạt, tiêu dùng và trong công nghiệp.
Nước lọc được coi là có chất lượng, tiêu chuẩn cao hơn cả là nước dùng để uống hoặc các sản phẩm nước uống đóng chai hay nước uống tinh khiết (thường dùng để uống hoặc tiêu thụ trong khi chế biến thực phẩm.) hoặc một dạng nước lọc được sử dụng rộng rãi là nước máy. Yêu cầu vi sinh vật đối với nước. Nước qua lọc phải đảm bảo chất lượng không gây rủi ro cho sức khoẻ người tiêu dùng (không được có các vi sinh vật gây bệnh). Tuân thủ một số tiêu chí đánh giá chất lượng nước qua lọc.
- Coliform tổng số. coli hoặc coliform chịu nhiệt. - Pseudomonas aeruginosa treptococci feacal (P. - Bào tử vi khuẩn kị khí khử sunphit 5 2.
Ô nhiễm nước do vi khuẩn 2. Ô nhiễm vi khuẩn từ động vật. Mọi cơ thể sống đều mang rất nhiều loài vi khuẩn, nhất là trong đường tiêu hóa, hô hấp, trên da và niêm mạc của các xoang tự nhiên thông với bên ngoài. Những giống vi khuẩn chủ yếu là: Staphylococcus, Salmonella, Escherichia coli, Aerobacter, Clostridium, Pseudomonas aeruginosa v.v… Trong đường tiêu hóa, những vi khuẩn này theo phân thải ra ngoài, có khả năng xâm nhiễm vào thực phẩm qua nhiều con đường khác nhau.
Phân của người và gia súc có chứa vô số loài vi khuẩn, do đó chúng dễ dàng phát tán vào môi trường, gây ô nhiễm thực phẩm nói chung, nguồn nước nói riêng. Ô nhiễm vi khuẩn từ nguồn nước (nước ngầm, nước bề mặt). Sinh vật có mặt trong môi trường nước ở nhiều dạng khác nhau. Bên cạnh các sinh vật có ích có nhiều nhóm sinh vật gây bệnh hoặc truyền bệnh cho người và sinh vật.
Trong số này, đáng chú ý là các loại vi khuẩn, virus và ký sinh trùng gây bệnh tả, lỵ, thương hàn, sốt rét, siêu vi khuẩn viêm gan B, siêu vi khuẩn viêm não Nhật Bản. Nguồn gây ô nhiễm sinh học cho môi trường nước chủ yếu là phân, rác, nước thải sinh hoạt, xác chết sinh vật, nước thải các bệnh viện. Khi nước bị ô nhiễm sẽ làm mất cân bằng sinh thái tự nhiên của sông, suối, ao hồ., làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe cộng đồng dân cư và các hoạt động sản xuất. Nước bị ô nhiễm càng nhiều thì số lượng vi sinh vật càng tăng, ở tầng nước sâu sẽ ít vi sinh vật hơn lớp nước trên bề mặt.
Nước sinh hoạt ở các thành thị là nước máy được khai thác ở tầng nước ngầm sâu, đã được xử lý bằng hệ thống lắng lọc, khử khuẩn nên số lượng vi sinh vật có ít hơn các loại nước khác. Ðể đánh giá chất lượng nước dưới góc độ ô nhiễm tác nhân sinh học, người ta thường dùng chỉ số Coliform. Ðây là chỉ số phản ánh số lượng vi 6 khuẩn Coliform trong nước, thường không gây bệnh cho người và sinh vật, nhưng biểu hiện sự ô nhiễm nước bởi các tác nhân sinh học. Ô nhiễm vi khuẩn từ không khí.
Không khí tại chuồng nuôi, sân bãi, nhà xưởng., có thể chứa nhiều vi sinh vật. Độ ẩm không khí càng cao thì mật độ vi sinh vật càng lớn. Đặc biệt môi trường không khí dễ làm phát tán nhanh chóng vi sinh vật. Bên ngoài và bên trong khu vực sản xuất nước đóng chai có thể tìm thấy những vi khuẩn gây bệnh như: Staphylococcus, Salmonella, Streptococcus, E.
Ngoài ra, đất chứa một số lượng lớn vi sinh vật có nguồn gốc khác nhau. Những vi sinh vật này sẽ gián tiếp làm ô nhiễm thực phẩm. Đầu tiên chúng nhiễm vào động vật sinh sống trên bề mặt, từ đó được phát tán vào không khí, nước và cuối cùng nhiễm vào thực phẩm [13], [14], [19] 2. Một số chỉ tiêu trong ô nhiễm nƣớc qua lọc 2.
Coliforms Năm 1892 lần đầu tiên được F. Schardiger đề xuất chỉ tiêu chỉ điểm cho các tác nhân gây bệnh lây truyền qua nước sinh hoạt. Sau đó Theobald Smith cho rằng vì nơi cư trú của coliform là đường ruột của người và động vật máu nóng nên sự xuất hiện của chúng ở môi trường chứng tỏ môi trường đó đã bị ô nhiễm phân. Từ đó Coliform được coi là chỉ điểm vệ sinh quan trọng, nhất là đối với nguồn nước đã được xử lý.
Sự có mặt của Coliform chứng minh rằng biện pháp khử khuẩn chưa đạt hiệu quả. Chúng được tìm thấy trong phân người, động vật và cả trong môi trường như đất, nước, rau quả.