CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. QUAN NIỆM VỀ NGHÈO ĐÓI VÀ XOÁ ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. Quan niệm về nghèo đói và các tiêu chí xác định nghèo đói 1. Quan niệm về nghèo đói Hiện nay, nghèo đói đã, đang diễn ra trên quy mô lớn và hậu quả của nó tác động đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Nó có ảnh hưởng không chỉ đối với các quốc gia nghèo mà còn có nguy cơ lan rộng và tác động toàn cầu như tàn phá môi trường sinh thái, vấn đề di dân quốc tế ồ ạt, tiêu cực xã hội lan rộng,. Vì vậy, sự nghiệp chống nghèo đói không chỉ đối với các nước nghèo mà cả đối với các nước phát triển. Để giải quyết vấn đề nghèo đói cần thiết phải có quan niệm đúng về nghèo đói. Tại khóa họp đặc biệt của Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc về phát triển xã hội, tháng 6 năm 2000 tại Genever - Thụy Sỹ, các thành viên đã thống nhất cam kết, phấn đấu giảm một nữa số người nghèo trên thế giới.
Hội nghị kêu gọi cộng đồng quốc tế đẩy mạnh chiến dịch “Tấn công vào nghèo đói” và khuyến nghị các quốc gia cần có chiến lược toàn diện về xoá đói giảm nghèo. Tại Hội nghị thiên niên kỷ đầu tháng 9 năm 2000, Liên Hợp Quốc, một lần nữa khẳng định: Chống nghèo đói là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu của cộng đồng quốc tế trong thế kỷ XXI. Tuy nhiên, quá trình thực hiện xoá đói giảm nghèo ở mỗi quốc gia có cách làm và giải pháp khác nhau. Đó là do ở mỗi quốc gia có trình độ phát triển kinh tế - xã hội, điều kiện địa lý tự nhiên, trình độ dân trí, văn hóa, chính trị khác nhau nên khả năng đáp ứng các nhu cầu hưởng thụ vật chất, tinh thần cho dân chúng cũng khác nhau.
Ngay trong một quốc gia thì ở mỗi thời kỳ, giai đoạn lịch sử thì khả năng đáp ứng các nhu cầu trên cho người dân cũng không giống nhau. Điều đó dẫn đến quan niệm về nghèo đói và giải pháp xoá đói giảm nghèo của các quốc gia có sự khác nhau. Trên thế giới, vấn đề nghèo đói được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau như: nghèo về văn hoá, nghèo về tri thức, nghèo về kinh tế,… Dưới góc độ kinh tế, 5 Luan van nghèo cũng được xem xét với các lát cắt khác nhau như: nghèo về lương thực thực phẩm, nghèo về điều kiện sinh hoạt, nghèo trong mối quan hệ với giàu, nghèo trong việc bị hạn chế tiếp cận các nguồn lực phát triển; nghèo trong việc khó tiếp cận được thị trường,. Vậy nghèo được hiểu như thế nào? Theo các chuyên gia, nhà nghiên cứu cho rằng nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào sự phát triển cộng đồng và đưa ra những định nghĩa về nghèo như sau: - Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ.
- Sự nghèo khổ về tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi tiêu tối thiểu. - Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác định như không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở nước này hay nước khác. Hội nghị bàn về giảm nghèo đói trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức vào tháng 9/1993 tại Bangkok (Thái Lan), các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương. Đây là khái niệm tương đối đầy đủ và bao quát nên có thể được coi là định nghĩa chung nhất và có tính hướng dẫn về phương pháp nhận diện nét chính yếu phổ biến về đói nghèo của các quốc gia.
Tuy nhiên, các tiêu chí và chuẩn mực về mặt lượng hóa chưa được xác định vì còn phải tính đến sự khác biệt về mặt chênh lệch giữa các điều kiện tự nhiên, xã hội và trình độ phát triển của mỗi vùng, miền khác nhau. Ở Việt Nam, nghèo đói được phân theo hai cấp độ: Đói và nghèo. - Quan niệm về đói: Đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ bảo đảm nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai 6 Luan van tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng.
Đói là nấc thang thấp nhất của nghèo, đây vốn thuần túy là đói ăn, nằm trọn trong phạm trù kinh tế vật chất và khác với đói thông tin, đói hưởng thụ văn hóa, thuộc phạm trù văn hóa tinh thần. Khái niệm đói cũng có hai dạng; đói kinh niên và đói cấp tính (đói gay gắt). + Đói kinh niên: Là bộ phận dân cư đói nhiều năm liền cho đến thời điểm đang xét. + Đói cấp tính: Là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét.
+ Hộ đói: Là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, con cái không được học hành đầy đủ, ốm đau không có tiền chữa bệnh, nhà cửa rách nát,. - Quan niệm nghèo của Việt Nam: Về cơ bản quan niệm nghèo của Việt Nam thống nhất với khái niệm nghèo của ESCAP. Quan niệm nghèo ở đây có 2 dạng là nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. - Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống.
Nhu cầu cơ bản, tối thiểu đó là mức bảo đảm tối thiểu về ăn, mặc, nhà ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục và vệ sinh môi trường. Nhu cầu này cũng có sự thay đổi, khác biệt từng quốc gia và cũng được mở rộng dần. - Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định. Nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định.
Vì vậy, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xóa dần nghèo tuyệt đối là việc có thể làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vấn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo. Khái niệm nghèo tuyệt đối được sử dụng để so sánh mức độ nghèo khổ giữa các quốc gia. Trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm quốc gia nghèo là đất nước có thu nhập bình quân đầu người rất thấp, nguồn lực cực kỳ hạn hẹp, cơ sở hạ tầng và môi trường yếu kém, có vị trí không thuận lợi trong giao lưu với cộng đồng quốc 7 Luan van tế. Còn trong đấu tranh chống nạn nghèo đói người ta dùng khái niệm nghèo tương đối.
Như vậy, nghèo đói là khái niệm mang tính chất tương đối cả về không gian và thời gian. Xem xét quan niệm nghèo và đói cho thấy: đói là khái niệm dùng để phân biệt mức độ rất nghèo của một bộ phận dân cư. Giữa đói và nghèo cũng có quan hệ mật thiết với nhau, nó phản ánh cấp độ và mức độ khác nhau, nghèo là một kiểu đói tiềm tàng và đói là một tình trạng hiển nhiên của nghèo. Nghèo ở Việt Nam được chia làm 3 cấp độ: người nghèo, hộ nghèo và vùng nghèo.
- Hộ nghèo: Là hộ đói ăn nhưng không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất. - Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ nghèo cao, không có hoặc rất thiếu những cơ sở hạ tầng thiết yếu như: điện, đường, trường, trạm, nước sạch,. trình độ dân trí thấp, tỷ lệ mù chữ cao. - Vùng nghèo: Là địa bàn nằm ở những khu vực khó khăn hiểm trở, giao thông không thuận tiện, có tỷ lệ xã nghèo, hộ nghèo cao.
Tóm lại, nghèo đói là một phạm trù lịch sử, có tính tương đối. Tính chất và đặc trưng của nghèo đói phụ thuộc vào điều kiện địa lý tự nhiên, nhân tố chính trị, văn hóa và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của vùng, miền, quốc gia, khu vực. Đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn, là cơ sở của việc tìm kiếm đồng bộ các giải pháp xoá đói giảm nghèo ở nước ta, nhất là vùng dân cư nông nghiệp và nông thôn hiện nay. Tiêu chí xác định nghèo đói và chuẩn nghèo đói Theo từ điển tiếng Việt thì tiêu chí và chuẩn có các nghĩa sau đây: Tiêu chí có nghĩa là: tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại một sự vật, một khái niệm.
Như vậy, tiêu chí mang tính định tính. Chuẩn có nghĩa là: Cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng, vật được chọn làm mẫu để thể hiện một đơn vị đo lường; cái được công nhận là đúng theo quy định hoặc đúng theo thói quen trong xã hội. 8 Luan van Chuẩn mang tính định lượng. Vậy, nếu lấy thu nhập làm tiêu chí xác định nghèo thì có thể hiểu chuẩn, nghĩa là mốc giới hạn do nhà nước hay tổ chức quốc tế quy định về mức thu nhập mà nếu ai có thu nhập thấp hơn mức này gọi là nghèo, còn ai vượt qua giới hạn đó thì họ không phải là người nghèo.
Giữa chuẩn nghèo và tỷ lệ hộ nghèo có quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, nếu chuẩn nghèo cao thì tỷ lệ hộ nghèo cao và ngược lại * Tiêu chí xác định chuẩn nghèo thế giới Để xác định chuẩn nghèo có nhiều tiêu chí, chuẩn mực đánh giá khác nhau. Trên thế giới người ta lấy những chỉ tiêu: chất lượng cuộc sống (PQLI), chỉ tiêu phát triển con người (HDI), chỉ tiêu nhu cầu dinh dưỡng, chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người để làm các tiêu chí xác định chuẩn nghèo. Chỉ tiêu chất lượng cuộc sống: Bao gồm ba nhân tố cơ bản, đó là tuổi thọ, tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và tỷ lệ mù chữ.