phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Khung lý thuyết về nghèo đa chiều ở địa phương. Chƣơng 2: Thực trạng nghèo các chiều của tỉnh Oudomxay giai đoạn 2016-2019. Chƣơng 3: Giải pháp giảm các chiều nghèo tỉnh Oudomxay đến năm 2025. 7 CHƢƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ NGHÈO ĐA CHIỀU Ở ĐỊA PHƢƠNG 1.1 Quan niệm nghèo đa chiều trên thế giới 1.1 Quan niệm về nghèo đa chiều về nghèo đói Nghèo đa chiều là nghèo được đo lường bằng mức độ thiếu hụt, tiếp cận 5 dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, vệ sinh, thông tin), đo lường bằng 10 chỉ số.
Hộ nghèo đa chiều lànhững hộ thiếu hụt từ 3 chỉ số trên tổng số 10 chỉ số. Nghèo đói là một vấn đề mang tính chất toàn cầu và luôn thu hút được sự quan tâm của cả thế giới. Từ những nước phát triển đến những nước đang phát triển đều chung tay nỗ lực giảm nghèo nhằm từng bước xóa đói giảm nghèo, nâng cao phúc lợi của người dân và kiên quyết không để các thành phần trong xã hội phải rơi vào hoàn cảnh bần cùng. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này và tựu chung lại đều coi đói nghèo là tình trạng thiếu hụt yếu tố nào đó so với chuẩn mực của xã hội, đó là tình trạng một nhóm người trong xã hội không có khả năng được hưởng một yếu tố nào đó ở mức tối thiểu cần thiết.
Theo thời gian, cùng với sự phát triển của xã hội thì quan niệm và cách tiếp cận về nghèo đói cũng có thiều thay đổi với 3 trường phái sau: 1. Quan niệm theo trường phái phúc lợi Theo trường phái phúc lợi, đói nghèo được quan niệm là khi một hay nhiều cá nhân trong xã hội không có được một mức phúc lợi kinh tế cần thiết để đảm bảo một cuộc sống tối thiểu hợp lý theo tiêu chuẩn của xã hội đó. Mức phúc lợi này được hiểu là độ thỏa dụng cá nhân hay chính là mức sống, khi thu nhập tăng thì mức sống hay độ hỏa dụng cá nhân sẽ tăng. Theo trường phái này, đói nghèo được phản ánh qua thu nhập và vấn đề được chú trọng là việc tăng năng suất, tạo việc làm.
Qua đó nâng cao thu nhập cho người dân để họ có thể có được mức phúc lợi kinh tế cần thiết như xã hội mong muốn. Quan niệm theo trường phái dựa vào nhu cầu cơ bản Vào những năm 1900, các nghiên cứu về ngheo đói đã chỉ ra rằng sự nghèo khổ không chỉ được phản ánh qua thu nhập (Giống như quan niệm theo trường phái phúc lợi) mà nó còn được phản ánh qua các nhu cầu cơ bản của con người như: lương thực thực phẩm, nước, điều kiện vệ sinh, nhà ở, quần áo, giáo dục, y tế, giao thông công cộng. Trương phái nhu cầu cơ bản đã đưa ra quan niệm về đói nghèo là tình trạng cá nhân trong xã hội không có khả năng được hưởng một tập hợp những hàng hóa và dịch vụ được xác định cụ thể mà việc thỏa nãn chúng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo chất lượng cuộc sống: trong đó, nhu cầu về dinh dưỡng là quan trọng nhất. Trường phái này chú trọng đến việc tăng cường khả năng tiếp cận với những loại nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo chất lượng cuộc sống.
Khác với trường phái phúc lợi tập trung đi sâu vào xác định mức sống hay độ thỏa dụng cá nhân, trường phái này lại chú ý tới một hệ thống các hàng hóa cơ bản được coi là mọi cá nhân có quyền được hưởng. Dựa trên quan niệm của trường phái này. Hội nghị quốc tế về vấn đề đói nghèo năm 1993 đã định nghĩa: Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương. Quan niệm theo trường phái dựa vào năng lực Quan niệm về nghèo đói theo trường phai dựa vào năng lực cho rằng cần phải chú trọng đến việc tạo cơ hội cho người nghèo để họ có thể phát huy năng lực theo cách mà họ lựa chọn.
Theo đó, người nghèo cần được tạo cơ hội để có được năng lực thực hiện các nhu cầu cơ bản (dinh dưỡng, sức khỏe.) và các nhu cầu cao hơn (Được tôn trọng, được tham gia vào đời sống xã hội, có tiếng nói và quyền lực). Trường phái năng lực không quan tâm đến những gì thiếu để thỏa mãn độ thỏa dụng cá nhân hay nhu cầu cơ bản của con người, mà chú trọng đến khả năng hay năng lực của con người. Vào những năm 1980, các nhà nghiên cứu đã chứng minh: Giá trị cuộc sống của con người không chỉ phụ thuộc duy nhất vào độ thỏa dụng hay thỏa mãn các nhu cầu cơ bản, mà đó là khả năng mà một con người có được, là 9 quyền tự do đáng kể mà họ được hưởng, để vươn tới một cuộc sống mà họ mong muốn. Trường phái này chú trọng đến việc tạo cơ hội cho người nghèo để họ có thể phát huy năng lực theo cách mà họ chọn, cần phải tạo điều kiện để người nghèo có được năng thực hiện các chức năng cần thiết.
Qua các quan niệm theo những trường phái khác nhau, có thể thấy nghèo đói là một khái niệm động theo thời gian và không gian; Tuy chung ta không thể tìm được khái niệm duy nhất đầy đủ về đói nghèo, nhưng có thể chỉ ra những biểu hiện cơ bản hay những khía cạnh chủ yếu của đói nghèo. Ngày nay, hầu hết các tổ chức quốc tế như WB, UN đều đã mở rộng khái niệm đói nghèo từ khái niệm nghèo đói vật chất đến nhìn nhận nghèo đói là khái niệm đa chiều, nghèo khổ con người với khía cạnh cơ bản đó là: Mức thu nhập của người dân, là cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, và là cơ hội thể hiện năng lực cá nhân.2 Quan niệm nghèo đa chiều ở Lào Qua thời gian, các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đều thống nhất rằng nghèo đa chiều là cách tiếp cận mới nhằm hạn chế việc bỏ sót những đối tượng tuy không nghèo về thu nhập nhưng lại nghèo về các chiều cạnh khác. Thay vì xem xét nghèo thu nhập, nhưng ai không được khám chữa bệnh, không được đến trường, không được tiếp cận thông tin cũng được xác định là nghèo. Cái nghèo gắn liền với sự thiếu thốn thu nhập/chi tiêu mà còn là việc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản khác.
Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo hiệu quả, bền vững hơn, Quốc hội khóaVIII, về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ: Xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm đảm bảo mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vu xã hội cơ bản. Ngày 16 tháng 11 năm 2017, Thủ tướng chính phủ đã kýnghị định số 348/PM về tiêu chuẩn nghèo đói và phát triển của CHDCND Lào được xây dựng theo hướng: sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Theo đó tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựa trên cơ sở: (1) Các tiêu chí về thu nhập, bao gồm: chuẩn mức sống tối thiếu về thu nhập, chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập; (2) Mức độ thiếu hụt trong tiếp 10 cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm: tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, điều kiện sống và tiếp cận thông tin.2 Đo lƣờng nghèo đa chiều 1. Đo lường nghèo đa chiều thế giới 1.
Chỉ số khổ con người (HPI – Human Poverty Index) Chỉ số này lần đầu tiên xuất hiện trong trong "Báo cáo về phát triển con người" năm 1997 của UNDP. Đây là một chỉ số tập hợp các đặc tính khác nhau về khía cạnh chất lượng cuộc sống con người cho phép đánh giá tổng hợp về mức độ nghèo khổ của cộng đồng. HPI tập trung phản ánh sự bần cùng về ba khía cạnh thiết yếu của cuộc sống con người đã được đề cập đến trong Chỉ số phát triển con người (HDI), đó là: sức khỏe, giáo dục và mức sống. Bản chất của sự nghèo khổ rất khác nhau giữa những điều kiện kinh tế, xã hội của các cộng đồng.
Bởi vậy, việc sử dụng HPI mang tính chất nhạy cảm với bối cảnh xã hội của quốc gia. Chính vì vây, người ta đã chia HPI thành 2 loại: HPI-1 để đánh giá mức độ nghèo của con người ở các quốc gia đang phát triển và HPI-2 để đánh giá mức độ nghèo của con người ở các quốc gia có thu nhập cao nhằm phản ánh tốt hơn sự khác biệt KTXH. Cụ thể, HPI-1 và HPI-2 cùng đo lường qua những khía cạnh sau: Thứ nhất là sức khỏe được biểu hiện bằng cuộc sống khỏe mạnh và lâu dài: quốc gia sẽ bị coi là nghèo nếu có tỷ lệ chết sớm cao. Điều này được đo bằng chỉ báo tỷ lệ dân cư không sống đến tuổi 40 (đối với HPI-1) và tuổi 60 (đối với HPI-2); Thứ hai là tri thức: Quốc gia sẽ bị coi là nghèo nếu có nhiều người dân không biết chữ hoặc không có khả năng đọc và viết thành thạo.
Điều đó được đo lường bằng chỉ báo tỷ lệ người lớn mù chữ (đối với HPI-1) và tỷ lệ người lớn trong độ tuổi 16 - 65 thiếu các kỹ năng đọc và viết thành thạo (đối với HPI-2); Thứ ba là mức sống: thể hiện ở tình trạng không được tiếp cận đầy đủ tới những điều kiện kinh tế chung, đo bằng trung bình không trọng số của hai chỉ báo: Tỷ lệ dân số không được tiếp cận bền vững tới nguồn nước hợp vệ sinh và tỷ lệ trẻ thiếu cân so với tuổi (đối với HPI-1) và đo bằng tỷ lệ người dân dưới chuẩn nghèo 11 thu nhập (50% trung bình của phần thu nhập khả dụng của hộ gia đình đã điều chỉnh), (đối với HPI-2). Giá trị HPI của một nước nói lên rằng sự nghèo khổ của con người ảnh hưởng lên bao nhiêu phần dân số của nước đó. Tuy nhiên, trong các chỉ báo hợp phần của HPI, ta không thấy sự hiện diện của các chỉ báo trên lĩnh vực kinh tế. Bởi vậy, HPI cũng không phải là thước đo để đo lường nghèo đói đa chiều.
Đây cũng chính là hạn chế lớn nhất của HPI và nó đã được khắc phục bởi một thước đo khác đó là chỉ số nghèo đa chiều.